Bà Hương, 66 tuổi, tiền sử polyp đại trực tràng nay tiến triển khối ung thư dài 13 cm; vừa được phẫu thuật bằng robot cắt bỏ u và nhiều hạch.
Bà Hương phát hiện có nhiều polyp đại trực tràng cách đây 5 năm. Kết quả sinh thiết tại thời điểm đó là lành tính, bác sĩ khuyến cáo theo dõi định kỳ do nguy cơ tiến triển. Tuy nhiên, người bệnh không duy trì lịch tái khám. Gần đây, bà xuất hiện các triệu chứng như táo bón kéo dài, đau bụng âm ỉ, đi tiêu không tự chủ và đau hậu môn dữ dội.
Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, kết quả siêu âm cho thấy thành trực tràng dày khoảng 12 mm, kèm theo các hạch ở vùng sau phúc mạc dọc động mạch chậu và động mạch chủ bụng. Chụp cộng hưởng từ (MRI) ghi nhận đoạn trực tràng trên – giữa có biểu hiện dày thành không đều. Nội soi đại trực tràng phát hiện khối u sùi dài 13 cm cách rìa hậu môn khoảng 7 cm, chiếm gần toàn bộ chu vi lòng trực tràng, ống soi không thể đi qua. Bề mặt khối u loét sâu, hoại tử, dễ chảy máu khi chạm. Kết quả sinh thiết xác định ung thư trực tràng. Người bệnh được chẩn đoán ung thư trực tràng giai đoạn tiến triển.
Bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Quốc Thái, Trưởng khoa Ngoại Tiêu hóa, Trung tâm Nội soi và Phẫu thuật Nội soi Tiêu hóa, cho biết trường hợp này cần điều trị đa mô thức. Khối u lớn, xâm lấn vòng quanh lòng trực tràng gây hẹp lòng ruột, khiến phân không thể lưu thông, gây táo bón, chướng bụng và đau quặn. Do đó, người bệnh được đặt stent nhằm tái thông lòng ruột, cải thiện triệu chứng và tạo điều kiện thuận lợi cho các bước điều trị tiếp theo.
Sau hội chẩn liên chuyên khoa giữa Ngoại tiêu hóa và Ung bướu, bác sĩ chỉ định bà Hương thực hiện 12 chu kỳ hóa trị tân bổ trợ nhằm thu nhỏ khối u và kiểm soát các hạch nghi ngờ di căn. Sau hóa trị, người bệnh được đánh giá đáp ứng tốt, đủ điều kiện phẫu thuật triệt căn.

Bà Hương được tiến hành phẫu thuật nội soi cắt đoạn trực tràng, nạo vét hạch với sự hỗ trợ của robot Da Vinci Xi. Trong quá trình thám sát, ê-kíp ghi nhận ổ bụng không có dịch, chưa phát hiện di căn gan hay phúc mạc. Tuy nhiên, khối u lớn làm co kéo thanh mạc trực tràng, kèm một số hạch dọc theo bó mạch mạc treo tràng dưới. Trực tràng vốn nằm sâu trong tiểu khung, không gian hẹp, bao quanh bởi xương chậu và nhiều cấu trúc quan trọng. Bà Hương lại có khung chậu hẹp bất thường, khối u to và dài chiếm hết khung chậu, gây hạn chế thao tác.
“Trường hợp này phẫu thuật bằng dụng cụ nội soi thẳng cổ điển sẽ không khả thi do có nhiều vùng hẹp, khó thao tác”, Bác sĩ Thái cho biết. Để khắc phục hạn chế trên, bác sĩ đã sử dụng robot với các cánh tay có thể xoay linh hoạt giúp tiếp cận chính xác khối u trong không gian hẹp. Hệ thống camera cung cấp hình ảnh phóng đại với độ phân giải cao và chiều sâu 3D, giúp phân biệt rõ mô ung thư với mô lành. Nhờ đó, bác sĩ có thể bóc tách khối u một cách tỉ mỉ, đồng thời bảo tồn tối đa các bó thần kinh vùng chậu, giảm nguy cơ rối loạn tiểu tiện và chức năng sinh dục sau mổ.
Trong quá trình phẫu thuật, ê-kíp tiến hành nạo vét hạch triệt để dọc theo các mạch máu lớn vùng chậu, đảm bảo nguyên tắc điều trị ung thư. Sau khi cắt bỏ khối u, bác sĩ nối đại tràng với ống hậu môn, đảm bảo lưu thông tiêu hóa. Đồng thời, do phát hiện túi mật có sỏi, ê-kíp cũng tiến hành cắt túi mật để phòng ngừa biến chứng sau này.
Sau mổ, bà Hương hồi phục tốt, ít đau, vết mổ nhỏ và khô. Bà có thể vận động nhẹ và ăn uống trở lại sau 3 ngày, xuất viện sau 1 tuần. Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy chỉ còn rải rác một số ổ ung thư biểu mô xâm nhập độ trung bình; 25 hạch được nạo vét không ghi nhận di căn, diện cắt âm tính. Với kết quả này, người bệnh cần tái khám định kỳ để theo dõi nguy cơ tái phát.

Bác sĩ Thái cho biết, ung thư đại trực tràng có thể liên quan đến nhiều yếu tố như di truyền, lối sống và môi trường. Trong đó, polyp đại trực tràng là một trong những nguyên nhân phổ biến. Polyp đại trực tràng dù lành tính vẫn có nguy cơ tiến triển thành ung thư. Quá trình này thường âm thầm trong nhiều năm, đến khi có triệu chứng thì bệnh đã ở giai đoạn muộn, việc điều trị phức tạp và tốn kém hơn rất nhiều.
Polyp đại trực tràng được chia thành các nhóm chính như polyp tăng sản và polyp tuyến. Polyp tăng sản kích thước nhỏ (dưới 5 mm) thường ít nguy cơ tiến triển thành ung thư. Tuy nhiên, các polyp có kích thước lớn hơn, đặc biệt từ 10 mm trở lên, có nguy cơ ác tính cao hơn.
Đáng lưu ý, polyp tuyến chiếm phần lớn các trường hợp có nguy cơ chuyển thành ung thư. Nhiều nghiên cứu cho thấy hơn 70% ung thư đại trực tràng phát sinh từ polyp tuyến. Quá trình này thường diễn ra âm thầm trong nhiều năm.
Bác sĩ Thái khuyến cáo người trên 45 tuổi, có tiền sử gia đình mắc ung thư đại trực tràng, từng có polyp, mắc các bệnh viêm ruột mạn tính như viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn kéo dài nên tầm soát định kỳ theo hướng dẫn của bác sĩ.
Nếu phát hiện sớm, polyp và ung thư giai đoạn đầu có thể điều trị triệt căn bằng các phương pháp ít xâm lấn như nội soi cắt hớt niêm mạc (EMR) hay cắt tách dưới niêm mạc (ESD) hoặc phẫu thuật lấy trọn khối u khi tế bào ung thư còn khu trú.
Trường hợp bà Hương bệnh phát hiện ở giai đoạn tiến triển, việc điều trị trở nên phức tạp hơn, thường phải phối hợp nhiều phương pháp như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị. Tuy nhiên, may mắn là quá trình điều trị, người bệnh đáp ứng tốt với hóa trị, phẫu thuật cắt hết u, giải phẫu bệnh sau mổ chỉ còn giai đoạn I.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH