Không có những dấu hiệu điển hình của bệnh tim mạch, chị Mẫn, 40 tuổi, được chẩn đoán thông liên nhĩ nhờ đi khám khi thấy mệt thường xuyên.

Một tháng trước, chị Mẫn đôi lúc thấy mệt, nghỉ ngơi thì hết, lặp lại vài lần mỗi ngày. Triệu chứng rất mơ hồ, không kèm dấu hiệu bất thường nào khác. Chị đi khám tại phòng khám tư, siêu âm nghi ngờ hẹp van động mạch phổi. Bác sĩ khuyên chị đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM thăm khám chuyên sâu.
Ngày…, BS.CKII Vũ Năng Phúc, Trưởng khoa Tim bẩm sinh, Trung tâm Tim mạch, cho biết chị Mẫn được siêu âm tim qua thành ngực kiểm tra, ghi nhận thông liên nhĩ lỗ thứ hai đường kính 23 mm, giãn buồng tim phải kèm tăng áp phổi nhẹ, hở van động mạch phổi nhẹ. Bác sĩ chỉ định siêu âm tim qua thực quản để đánh giá kỹ cấu trúc và chức năng tim cho bệnh nhân.
Siêu âm tim qua thực quản là phương pháp siêu âm tim sử dụng sóng siêu âm để tạo ra hình ảnh chi tiết về tim cũng như các mạch máu đến và đi từ tim. Khác với siêu âm tim qua thành ngực, đầu dò siêu âm tim qua thực quản được gắn vào đầu ống nhỏ, đưa qua đường miệng, xuống cổ họng và vào thực quản của người bệnh.
Vì thực quản rất gần với các buồng tim và không bị cản trở bởi các xương sườn và phổi nên phương pháp này cung cấp hình ảnh rõ nét hơn về các buồng tim, van tim, mạch máu.
Siêu âm tim qua thực quản thường được áp dụng để chẩn đoán các trường hợp siêu âm tim qua thành ngực chưa rõ và hỗ trợ trong quá trình phẫu thuật. Tại bệnh viện Tâm Anh, phương pháp này được thực hiện dưới gây mê tĩnh mạch giúp bệnh nhân nhẹ nhàng, thoải mái và giảm tối đa các biến chứng.
Kết quả siêu âm tim qua thực quản của chị Mẫn cho thấy kích thước thực của lỗ thông liên nhĩ là 26×19 mm, giãn lớn buồng tim phải. Bệnh nhân không có triệu chứng điển hình, chỉ thỉnh thoảng mệt thoáng qua. “Nếu chị Mẫn chủ quan không đi khám, khả năng buồng tim phải diễn tiến giãn lớn làm tăng nguy cơ loạn nhịp, suy tim phải”, bác sĩ Phúc nhận định.
Sau khi hội chẩn, các bác sĩ quyết định đóng lỗ thông liên nhĩ cho chị Mẫn để ngăn ngừa biến chứng. Trước ngày thủ thuật, êkíp thông tim đánh giá lại toàn diện hình ảnh siêu âm tim qua thành ngực và thực quản. Nhờ đó, xác định đúng kích thước và vị trí lỗ thông để chọn dụng cụ bít kích thước 36 mm, một trong những dụng cụ có kích thước lớn nhất, để đóng thông liên nhĩ.
Đa số các ca tương tự cần có sự hỗ trợ của siêu âm qua thực quản, bệnh nhân phải gây mê toàn thân. Tuy nhiên, êkíp đánh giá chị Mẫn có thể tiến hành đóng thông liên nhĩ mà không cần đến sự hỗ trợ của siêu âm qua thực quản (do đã thực hiện trước đó), vì thế chỉ cần gây tê tại chỗ.
Bác sĩ Phúc cùng êkíp tiến hành thông tim phải để loại trừ tăng áp động mạch phổi, sau đó luồn dây dẫn từ tĩnh mạch đùi đến nhĩ phải, qua vách liên nhĩ vào nhĩ trái và qua tĩnh mạch phổi.
Sau đó, đưa dụng cụ bít thông liên nhĩ vào vị trí lỗ thông trong tim qua hệ thống dẫn đường. Sau 25 phút, toàn bộ hệ thống dẫn đường được rút ra ngoài sau khi chắc chắn dụng cụ đã bám đúng vị trí, không chèn áp các cơ quan lân cận dưới sự kiểm tra của soi dưới đèn huỳnh quang và siêu âm tim qua thành ngực. Chị Mẫn khỏe mạnh sau can thiệp và xuất viện ngay hôm sau.

Bác sĩ Phúc thông tin, thông liên nhĩ chiếm từ 6-10% bệnh lý tim bẩm sinh, xảy ra khi có sự xuất hiện của một lỗ thủng giữa hai buồng tâm nhĩ. Lỗ thông liên nhĩ có thể nằm ở nhiều vị trí khác nhau trên vách liên nhĩ. Trong số 4 loại thông liên nhĩ, phổ biến nhất là thông liên nhĩ lỗ thứ hai như chị Mẫn (chiếm 70%), còn lại là thông liên nhĩ lỗ thứ nhất, thông liên nhĩ xoang tĩnh mạch, thông liên nhĩ xoang vành.
Nhiều trẻ em có khiếm khuyết vách ngăn liên nhĩ không có triệu chứng và vẫn khỏe mạnh, sinh hoạt bình thường. Đây là nguyên nhân khiến bệnh không được phát hiện sớm mà phát triển đến tuổi trưởng thành. Có trường hợp bệnh nhân U60, thậm chí U70 mới được chẩn đoán thông liên nhĩ.
Hầu hết thông liên nhĩ lỗ thứ hai kích thước dưới 3 mm đều có khả năng tự đóng, nhiều lỗ thông từ 3-8 mm có thể đóng hoàn toàn trước khi trẻ 3 tuổi. Lỗ thông liên nhĩ có kích thước từ trung bình đến lớn (trên 8 mm) sẽ được điều trị bằng cách bít lỗ thông để ngăn ngừa biến chứng trong tương lai.
Sau can thiệp bít lỗ thông liên nhĩ, bệnh nhân thường cần uống thuốc trong 3-6 tháng; nghỉ ngơi và tránh các hoạt động thể chất gắng sức nặng trong ít nhất một tháng; phòng ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm trùng trong 6 tháng; ăn uống lành mạnh, giàu dinh dưỡng và uống đủ nước để hỗ trợ quá trình hồi phục; tái khám định kỳ để bác sĩ theo dõi tình trạng hồi phục và kiểm tra tình trạng hoạt động của dụng cụ bít dù thông liên nhĩ.
*Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH