Bà Hằng, 67 tuổi, mắc ung thư vú trái giai đoạn 3, được xạ trị bằng kỹ thuật điều biến liều và hít sâu nín thở, đảm bảo an toàn cho tim, phổi.

Thạc sĩ bác sĩ Phan Thị Hồng Đáng, khoa Xạ trị, Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết bà Hằng khám sức khỏe định kỳ, phát hiện ung thư vú trái, giai đoạn 3. U kích thước 17x11x24mm, di căn hạch, có thụ thể nội tiết tế bào phân chia nhanh. Người bệnh được hóa trị tân hỗ trợ để kìm hãm sự phát triển, thu nhỏ khối u, tạo thuận lợi cho phẫu thuật tuyến vú.
Bà Hằng được phẫu thuật cắt tuyến vú. Kết quả giải phẫu bệnh ghi nhận bà Hằng mắc ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập loại không đặc biệt, di căn hạch nách, xâm nhập mạch và quanh thần kinh; diện cắt không có tế bào ung thư. Bà Hằng cần xạ trị vào nền sẹo và bề mặt thành ngực nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư vi thể còn bám lại trên thành ngực, ngăn nguy cơ tái phát tại chỗ. Đồng thời, xạ trị vào hạch nách ngăn không cho tế bào ác tính tiến sâu vào hệ tuần hoàn. Phủ tia xạ vào hạch vú trong (chuỗi hạch dọc xương ức) giúp tăng tỷ lệ sống còn.

Tuy nhiên, vị trí chuỗi hạch vú trong nằm gần tim và nhánh động mạch vành trái, đặt ra nhiều thách thức cho ê kíp. Nếu dùng kỹ thuật xạ trị 3D thông thường, tia xạ xuyên qua hạch sẽ đâm thẳng vào tim, phổi, làm tăng nguy cơ gây các biến chứng muộn như xơ hóa cơ tim, bệnh mạch vành, viêm phổi… Liều bức xạ vượt ngưỡng cho phép có thể gây xơ phổi, suy giảm chức năng hô hấp.
Sau hội chẩn, bác sĩ Đáng chỉ định xạ trị cho bà Hằng với liều điều trị giảm phân liều theo kỹ thuật điều biến liều phối hợp kỹ thuật hít sâu nín thở nhằm rút ngắn thời gian điều trị cho người bệnh. “Đây là phác đồ xạ trị giảm phân liều, hiện được xem là tiêu chuẩn vàng trên thế giới, giúp bao vây triệt để tế bào ung thư, tối ưu hóa hiệu quả điều trị ở mức cao nhất” – bác sĩ Đáng nhận định.
Trước đây người bệnh phải xạ trị 5 tuần với 50 Gy chia làm 25 tia, dễ gây bong tróc, lở loét da; nguy cơ xơ cứng mô mềm thành ngực, co rút bướu (nếu mổ bảo tồn), giãn mao mạch dưới da sau nhiều năm; tăng mệt mỏi trong quá trình xạ trị; dễ gián đoạn xạ trị, ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Với phác đồ điều trị giảm phân liều, thời gian điều trị giảm còn 3 tuần, mỗi ngày một tia, thực hiện 5 ngày trong tuần (khoảng 15-16 buổi). Người bệnh rút ngắn thời gian xạ, giảm các biến chứng trên mà vẫn đảm bảo hiệu quả điều trị, phục hồi nhanh hơn. Trước khi xạ trị, người bệnh được lập kế hoạch mô phỏng để đảm bảo độ chính xác.
Để giảm biến chứng lên tim, phổi, bác sĩ sử dụng kỹ thuật điều biến liều kết hợp kỹ thuật hít sâu nín thở. Bà Hằng nằm trên bàn xạ, hít một hơi sâu và nín thở 20-25 giây. Lúc này, lồng ngực giãn, tạo khoảng trống đưa tim và phần lớn mô phổi ra khỏi trường chiếu xạ. Hệ thống camera 3D quang học quét bề mặt lồng ngực theo thời gian thực, nhận diện hàng ngàn điểm tọa độ trên bề mặt da, xác định biên độ thể tích lồng ngực đúng như lúc chụp mô phỏng. Lúc này, máy phát tia, giảm liều bức xạ lên tim,phổi… Đầu máy có các lá kim loại di chuyển liên tục, “nắn” chùm tia uốn lượn theo đúng hình dáng của thành ngực và các chuỗi hạch. Tia xạ vẫn tập trung liều vào vùng đích nhưng giảm ảnh hưởng đến mô, vùng xung quanh.
Nếu người bệnh mỏi, thở hắt ra hoặc cử động sai lệch chỉ 1-2 milimet, hệ thống sẽ tự động ngắt chùm tia xạ ngay lập tức, tránh rủi ro tia xạ chiếu nhầm vào tim. Trong vòng 10 phút, quá trình chiếu tia hoàn thành. Kỹ thuật hít sâu nín thở có thể giảm 50-70% liều bức xạ trung bình vào tim so với hít thở tự do.
Bà Hằng xạ trị liên tục 3 tuần, không ngắt quãng. Đánh giá sau xạ trị cho thấy sức khỏe bà ổn định, tế bào ác tính được kiểm soát. Hiện bà tái khám định kỳ tại bệnh viện theo hướng dẫn của bác sĩ.
Xạ trị là phương pháp sử dụng tia năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Với ung thư vú, xạ trị thường dùng sau phẫu thuật (bảo tồn, cắt bỏ toàn tuyến vú, tái tạo…). Xạ trị ở vùng ngực trái tiềm ẩn nhiều nguy cơ, dễ dẫn đến các biến chứng muộn như tăng nguy cơ bệnh mạch vành, viêm phổi… Bác sĩ thường dùng các kỹ thuật xạ trị hiện đại như điều biến liều… hệ thống máy chia thành hàng ngàn chùm tia nhỏ và bắn vào khối u từ nhiều góc độ khác nhau; đồng thời, sử dụng kỹ thuật kiểm soát nhịp thở để kiểm soát chuyển động khối u, đảm bảo điều trị trúng đích, an toàn. Hệ thống máy gia tốc tuyến tính giúp bác sĩ thực hiện được các kỹ thuật khó, giảm tác dụng phụ, đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả điều trị.
*Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH