Ông Tùng, 62 tuổi, ung thư tuyến nước bọt tái phát, được bác sĩ phát hiện khối u bộc lộ dấu ấn sinh học HER2, điều trị bằng hóa chất kết hợp thuốc đích.

BSCKII Nguyễn Thành Trung, Khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội cho biết bệnh nhân Tùng từng cắt toàn bộ tuyến mang tai phải và hóa- xạ trị bổ trợ sau phẫu thuật để điều trị ung thư tuyến nước bọt vào năm 2024 tại một bệnh viện khác.
Sau 1 năm, ông Tùng có dấu hiệu sụt cân nên đến bệnh viện tái khám. Phim chụp cắt lớp vi tính cho thấy bệnh nhân có 4 khối u ở gan, trong đó khối lớn nhất kích thước khoảng 66 x 65mm.
Bác sĩ Trung cho biết, ở bệnh nhân Tùng, do khối u nằm trong gan và có đặc điểm không điển hình, ban đầu nghĩ nhiều đến ung thư đường mật trong gan. Tuy nhiên, tiền sử từng mắc ung thư tuyến nước bọt không loại trừ khả năng đây là tổn thương di căn xa.
Bác sĩ Trung giải thích dù người bệnh đã được điều trị triệt căn bằng phẫu thuật kết hợp hóa- xạ trị, ung thư tuyến nước bọt ác tính cao vẫn tái phát và di căn xa. Một số tế bào ung thư có thể đã âm thầm tồn tại trong cơ thể từ trước nhưng chưa đủ lớn để phát hiện, sau đó phát triển thành tổn thương di căn gan.
Sau hội chẩn đa chuyên khoa, bệnh nhân được chỉ đinh hiện sinh thiết gan cùng xét nghiệm mô bệnh học, hóa mô miễn dịch chuyên sâu, kết quả xác định tổn thương gan thực chất là ung thư biểu mô tuyến ống di căn từ tuyến nước bọt, có bộc lộ rất mạnh dấu ấn sinh học HER2.

HER2 là một loại protein nằm trên bề mặt tế bào, có vai trò nhận tín hiệu kích thích tế bào phát triển và phân chia. Khi HER2 xuất hiện quá nhiều (HER2 dương tính), tế bào ung thư có thể tăng sinh mạnh hơn, khiến khối u tiến triển nhanh và dễ di căn hơn. Tuy nhiên, việc phát hiện HER2 lại có ý nghĩa rất quan trọng trong điều trị. Đây được xem là một dấu ấn sinh học giúp bác sĩ lựa chọn thuốc nhắm trúng đích, mở ra cơ hội điều trị theo phác đồ cá thể hóa thay vì chỉ hóa trị thông thường.
Ông Tùng được tư vấn điều trị phác đồ hóa trị kết hợp thuốc đích. Trong đó, hóa trị giúp tiêu diệt các tế bào ung thư đang tăng sinh mạnh, kết hợp với thuốc điều trị nhắm đích vô hiệu hóa protein HER2 trên bề mặt tế bào ung thư, từ đó ngăn khối u phát triển, đồng thời giúp hệ miễn dịch nhận diện được tế bào u và tiêu diệt chúng.

Bệnh nhân đáp ứng và dung nạp thuốc tốt. Kết quả chụp MRI sau 6 chu kỳ điều trị cho thấy kích thước các khối u ở gan giảm hơn một nửa so với trước điều trị. Bệnh nhân sẽ tiếp tục sử dụng thuốc đích trong vòng 1 năm trước khi đánh giá lại để quyết định hướng điều trị tiếp theo.
Ung thư tuyến nước bọt chiếm khoảng 3-5% các ung thư vùng đầu cổ. Bệnh có thể xuất phát từ tuyến mang tai, tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi hoặc các tuyến nước bọt nhỏ trong khoang miệng. Trong đó, tuyến mang tai là vị trí thường gặp nhất.
Bác sĩ Trung cho biết ung thư tuyến nước bọt giai đoạn sớm thường tiến triển âm thầm, dễ nhầm với các bệnh lý lành tính. Triệu chứng ban đầu có thể chỉ là khối sưng nhỏ vùng trước tai, góc hàm hoặc trong miệng, ít đau nên nhiều người chủ quan.
Khi bệnh tiến triển, người bệnh có thể xuất hiện đau, tê bì mặt, yếu liệt cơ mặt, nuốt khó hoặc nổi hạch cổ. Ở giai đoạn muộn, bệnh có thể di căn xa đến phổi, xương hoặc gan.
Điều trị ung thư tuyến nước bọt phụ thuộc vào giai đoạn bệnh và đặc điểm sinh học của khối u. Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị chính ở giai đoạn còn khu trú. Khi bệnh tiến triển tại chỗ vượt qua giới hạn tuyến nước bọt (di căn hạch vùng, u phá vỡ vỏ tuyến xâm lấn ra bên ngoài) khi đó sẽ kết hợp xạ trị bổ trợ để giảm nguy cơ tái phát.
Với bệnh tiến xa hoặc di căn, bác sĩ có thể phối hợp hóa trị, điều trị nhắm trúng đích hoặc liệu pháp miễn dịch. Đặc biệt, việc phát hiện các dấu ấn sinh học như HER2 hay PD-L1,…giúp mở ra cơ hội điều trị cá thể hóa, nâng cao khả năng kiểm soát bệnh cho người bệnh.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH