Chị gái, dì ruột, em họ và chị N. cùng mắc ung thư vú được điều trị kịp thời, nâng cao tỷ lệ sống.

Năm 2024, chị T.H.N. (41 tuổi, Bình Dương) thấy ngực phải có u, nghĩ lành tính nên không đi khám. Năm 2025, thấy u tăng kích thước, đau, chị đến BVĐK Tâm Anh TP.HCM kiểm tra.
Tại khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ, thạc sĩ bác sĩ CKI Huỳnh Bá Tấn, khám, thấy u cứng, chắc, nghi ngờ ung thư. Kết quả siêu âm, chụp nhũ ảnh cho thấy u có kích thước 5cm, có mạch máu nuôi. Chị N. được sinh thiết u, xác định ung thư vú giai đoạn 3, thể nội tiết.
Chị N. cho biết, gia đình chị có 3 người bị ung thư vú. Dì ruột chị bị ung thư vú vào năm 2010; em họ bị ung thư vú vào năm 2018; chị gái ruột ung thư vú năm 2019 khi 45 tuổi. Mọi người đã được điều trị và tiếp tục tái khám định kỳ. Xét nghiệm đột biến gen ghi nhận không có đột biến gen gây ung thư vú.
“Chị N. có nhiều người thân cấp 1 và cấp 2 đều bị ung thư vú, nên nguy cơ mắc bệnh cao hơn” – bác sĩ Tấn cho biết, thêm rằng nguy cơ tái phát cũng cao hơn do cộng hợp các yếu tố trên và phát hiện ở giai đoạn khá trễ.

Chị được hóa trị 6 toa thuốc để giảm kích thước khối u, sau đó phẫu thuật 5 trong 1 để cắt tuyến vú ung thư, đoạn nhũ phòng ngừa, nạo hạch nách, nội soi cắt buồng trứng, tái tạo 2 bên ngực. Cuộc mổ này giúp người bệnh hạn chế các can thiệp phẫu thuật về sau, rút ngắn thời gian điều trị, nâng cao hiệu quả và giảm nguy cơ tái phát. Chị N. cũng tránh được mặc cảm sau khi bị cắt tuyến vú và buồng trứng. Người bệnh cần xạ trị sau đó để đảm bảo tránh nguy cơ tái phát.
Trong cuộc mổ, bác sĩ Tấn và ê kíp khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ phẫu thuật cắt 2 tuyến vú, sau đó nạo hạch nách bên ngực ung thư và đặt túi ngực tái tạo vòng 1 cho chị N. Tiếp theo, bác sĩ phẫu thuật nội soi cắt 2 buồng trứng. Ca mổ kéo dài, các bác sĩ phẫu thuật và gây mê hồi sức phối hợp để đảm bảo an toàn vô khuẩn và gây mê. Cuộc phẫu thuật kết thúc sau 6 tiếng.
Bác sĩ Tấn cho biết, yếu tố gia đình có nhiều người bị ung thư vú ảnh hưởng đến khoảng 5% người bệnh. Người có mẹ, chị gái hoặc con gái (người thân cấp 1) bị ung thư vú khi còn trẻ (dưới 50 tuổi) có nguy cơ u vú ác tính cao gấp đôi người bình thường. Phụ nữ có người thân cấp 2 (ông, bà, cô, chú, dì, cháu gái, cháu trai) bị ung thư vú có nguy cơ trung bình.
Người bệnh có nguy cơ tái phát, di căn cao hơn. Tuy nhiên, bác sĩ sẽ kiểm soát các nguy cơ này bằng nhiều phương pháp phối hợp như hóa trị, xạ trị, đoạn nhũ phòng ngừa, cắt buồng trứng hoặc uống thuốc nội tiết ngăn chặn cơ thể sản xuất hormone (đối với ung thư vú thể nội tiết)… giúp tăng hiệu quả điều trị, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Một nghiên cứu trên Thư viện y khoa Mỹ cho thấy đoạn nhũ phòng ngừa đối bên giúp phụ nữ ung thư vú có tiền sử nhiều người trong gia đình mắc bệnh này (mẹ, chị gái hoặc con gái bị ung thư vú, đặc biệt trước 50 tuổi) giảm tới 96% nguy cơ ung thư ở bên ngực còn lại. Đoạn nhũ phòng ngừa ở bên còn lại cũng giúp giảm 48% tử vong do ung thư vú ở người mang đột biến gen BRCA1-2; giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ tại vùng, di căn xa ở bệnh nhân dưới 35 tuổi; cải thiện tỷ lệ sống ở nhóm 18-49 tuổi, giai đoạn I-II, thụ thể ER âm tính.
Hiện chưa có phác đồ chính thức cho phẫu thuật đoạn nhũ phòng ngừa đối bên. Hầu hết, cuộc phẫu thuật được thực hiện dựa trên nguyện vọng, đồng thuận giữa người bệnh, gia đình và bác sĩ sau khi hiểu rõ những lợi ích, nguy cơ của phẫu thuật.
Bác sĩ Tấn cho biết, yếu tố nguy cơ mắc ung thư là những yếu tố làm một người tăng khả năng so với những người khác. Tuy nhiên, không phải ai có yếu tố nguy cơ cũng mắc bệnh.
Phụ nữ từ 40 tuổi nên khám tầm soát ung thư vú hàng năm. Phụ nữ thuộc nhóm có nguy cơ ung thư vú cao (tiền sử gia đình, đột biến gen BRCA…) nên khám ở tuổi sớm hơn (trước 40 tuổi). Trong gia đình có mẹ bị ung thư vú, con gái nên đi tầm soát ung thư sớm trước 10 tuổi so với độ tuổi mẹ phát hiện ung thư.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH