Mang thai 31 tuần, chị Lan đau đầu, hoa mắt, huyết áp tăng vọt 204/114 mmHg, chẩn đoán tiền sản giật, bác sĩ nỗ lực giữ thai thêm một tuần rồi mổ khẩn cứu mẹ và bé.

Chị Lan (34 tuổi) bị đái tháo đường type 2 đã điều trị ổn định. Mang thai lần thứ 2 đến tuần thai 30, bác sĩ phát hiện chỉ số đường huyết cao, chị phải tiêm Insulin để kiểm soát. Cách nhập viện hai tuần, chị xuất hiện tình trạng đau đầu, hoa mắt, đi khám tại Tâm Anh huyết áp tăng lên 204/114 mmHg (bình thường 120/80 mmHG).
ThS.BS.CKII Nguyễn Thị Ngọc, Trung tâm Tim mạch cho biết, chỉ số huyết áp từ 180/120 mmHg trở lên hình thành cơn tăng huyết áp. Đây là tình trạng huyết áp tăng lên nhanh chóng, nặng và nghiêm trọng. Chỉ số trên 200 mmHg như chị Lan là tình trạng đặc biệt nguy hiểm. Nếu không điều trị kịp thời, người bệnh đối diện nguy cơ đột quỵ, đau tim, suy thất trái cấp tính kèm phù phổi, đau ngực không ổn định, phình bóc tách động mạch chủ, suy thận cấp, viêm cầu thận cấp, sản giật, hôn mê do nhiễm ceton.
Lập tức, chị Lan được xử lý cấp cứu, truyền thuốc hạ huyết áp tại bệnh viện dưới sự giám sát nghiêm ngặt, mục tiêu giảm xuống 160/100 – 110 mmHg trong 2 – 6 giờ tiếp theo, thận trọng hạ huyết áp về bình thường sau 24 – 48 giờ.
Sau hai ngày, chỉ số huyết áp ổn định hơn nhưng bác sĩ đánh giá vẫn ở mức cao 148/86 mmHg. Chỉ số đường huyết của người bệnh rất cao, lúc đói là 153 mg/dL, sau ăn hai tiếng là 135 mg/dL, trong khi mức bình thường là dưới 95 mg/dL (lúc đói) và dưới 120 mg/dL (sau ăn hai giờ). TS.BS Nguyễn Thị Yến Thu, Trung tâm Sản Phụ khoa, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM chẩn đoán chị Lan bị tiền sản giật nặng, đái tháo đường thai kỳ.
Tiền sản giật là một biến chứng nghiêm trọng của thai kỳ, thường xuất hiện sau tuần thứ 20 và đặc biệt phổ biến trong 3 tháng cuối. Đây là tình trạng tăng huyết áp kèm theo tổn thương ở một số cơ quan, phổ biến nhất là thận (gây protein niệu), gan, não và mắt.
“Nguyên nhân tiền sản giật có thể liên quan đến việc thai phụ có tiền căn đái tháo đường tuýp 2, lúc mang thai trở nên trầm trọng hơn”, bác sĩ Thu lý giải. Theo một số nghiên cứu, phụ nữ mắc bệnh tiểu đường loại 1 hoặc loại 2 (có từ trước) có khả năng mắc tiền sản giật cao gấp bốn lần so với phụ nữ không mắc bệnh tiểu đường.
Bệnh ảnh hưởng đến 9%-20% phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường type 1 và 7%-14% phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường type 2. Nếu không kiểm soát tốt, đường huyết sẽ gây nguy hiểm cho cả mẹ lẫn bé. Người mẹ có thể mắc các bệnh lý tăng huyết áp, võng mạc, bệnh lý mạch vành và nhiễm trùng tiết niệu, tăng nguy cơ tiền sản giật, sản giật.
Chị Lan được điều trị tiêm Insulin ngày 3 lần, tiếp tục sử dụng thuốc điều chỉnh huyết áp. Tuy nhiên, trong những ngày theo dõi tiếp theo, huyết áp vẫn dao động ở mức 150-160/100 mmHg. Các bác sĩ tiên lượng nếu tình trạng không cải thiện, phải chấm dứt thai kỳ để bảo vệ tính mạng người mẹ. Trong khi đó, thai mới hơn 31 tuần tuổi, nếu sinh non có nguy cơ suy hô hấp, vàng da, nhiễm trùng…
Các bác sĩ khoa Sản, Tim mạch và Nội tiết hội chẩn, lên kế hoạch kéo dài thai kỳ thêm ít ngày để thai nhi phát triển thêm, đồng thời tiêm thuốc trưởng thành phổi cho thai.
Đến ngày thứ bảy nhập viện, huyết áp chị Lan tăng trở lại lên 175/110 mmHg, kèm nguy cơ suy tim, đột quỵ do tiền sản giật diễn tiến nặng. Ekip quyết định mổ khẩn cấp. Bé chào đời lúc 32 tuần 2 ngày, nặng 1,8 kg, được bác sĩ hỗ trợ thở ngay tại phòng mổ, sau đó chuyển đến Trung tâm Sơ sinh, nằm trong lồng ấp của phòng chăm sóc đặc biệt (NICU). Theo bác sĩ, tình trạng bé tạm ổn định, phản xạ tốt, đang được theo dõi hô hấp và nuôi dưỡng tĩnh mạch trong những ngày đầu.

Một ngày sau sinh, chị Lan hồi phục nhanh, không còn đau đầu hay chóng mặt, huyết áp giảm về mức 120/70 mmHg mà không cần dùng thuốc. Người bệnh tiếp tục tiêm thuốc Insulin và tuân thủ chế độ ăn kiểm soát nghiêm ngặt dành riêng cho người mắc bệnh tiểu đường để kiểm soát đường huyết.
Theo bác sĩ Yến Thu, phụ nữ có tiền sử đái tháo đường nên được tư vấn tiền thai kỳ kỹ lưỡng, kiểm soát đường huyết chặt chẽ trước và trong khi mang thai. Khi bước vào tam cá nguyệt thứ ba, cần theo dõi sát các chỉ số huyết áp, protein niệu, đường huyết và dấu hiệu cảnh báo tiền sản giật.
Tầm soát tiểu đường thai kỳ thường được thực hiện khi thai 24 tuần. Người bệnh có yếu tố nguy cơ như tiểu đường trước khi có thai, cần theo dõi và kiểm soát đường huyết tốt để có hướng xử trí kịp thời, hạn chế các biến chứng có thể xảy ra ở mẹ và thai. Các trường hợp có yếu tố nguy cơ khác như tiền căn đái tháo đường thai kỳ ở lần mang thai trước cần tầm soát đái tháo đường thai kỳ ngay từ lần khám thai đầu tiên.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH