Ông Tám (70 tuổi, TP.HCM) đau ngực, đau lưng suốt một tuần, nghĩ do bệnh cột sống. Khi sốt, khó thở, SpO2 giảm còn 88%, bác sĩ phát hiện áp xe phổi vỡ gây tràn mủ màng phổi.
Ông Tám bắt đầu xuất hiện đau lưng trong khoảng nửa tháng trước khi nhập viện. Cách nhập viện khoảng 1 tuần, ông xuất hiện thêm triệu chứng đau ngực và khó thở nên đi khám, được chẩn đoán theo dõi thoái hóa thắt lưng, dùng thuốc giảm đau nhưng tình trạng không cải thiện.
Ông đến khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (cơ sở P.Tân Sơn Hòa – Q.Tân Bình cũ) trong tình trạng mệt, sốt, đau ngực, lưng và khó thở.
Bác sĩ chuyên khoa I Bùi Văn Long, khoa Nội Tổng hợp, cho biết thời điểm nhập viện, người bệnh sốt, khó thở nhiều hơn SpO2 (nồng độ oxy trong máu) còn 88%, trong khi người khỏe mạnh thường ở mức 95-100%. Huyết áp tụt 93/61 mmHg (thông thường 120/80 mmHg). Người bệnh phải gắng sức để thở, cơ thể phải huy động các cơ hô hấp phụ cùng tham gia hỗ trợ hô hấp. Bác sĩ ghi nhận bệnh suy hô hấp và giảm âm phế bào phổi phải)
Với các dấu hiệu trên, bác sĩ nghi ngờ có tổn thương tại phổi hoặc khoang màng phổi nên người bệnh được chỉ định chụp CT lồng ngực bằng hệ thống CT 1975 lát cắt tích hợp AI (Mỹ). Kết quả hình ảnh học ghi nhận tình trạng tràn dịch màng phổi phải.
Bác sĩ tiếp tục chỉ định chọc dịch màng phổi để xác định nguyên nhân.
Bất ngờ, dịch lấy ra có màu vàng đục giống mủ. Kết quả này gợi ý tình trạng nhiễm trùng khoang màng phổi, còn gọi là viêm mủ màng phổi, hay tràn mủ màng phổi.
Bình thường, khoang màng phổi – khoảng không nằm giữa phổi và thành ngực – chỉ chứa một lượng dịch rất nhỏ dịch giúp hai lá màng phổi trượt lên nhau khi hô hấp. Khi bị nhiễm trùng, lượng dịch có thể tăng lên, trở nên đục và chứa nhiều tế bào viêm, bạch cầu, vi khuẩn, protein và các mảnh vụn tế bào, tình trạng nặng có vi khuẩn và bạch cầu có số lượng nhiều còn gọi là mủ.

Bác sĩ Long cho biết ghi nhận ông Tám có tình trạng viêm mủ màng phổi liên quan đến áp xe phổi vỡ. Đây là tình huống ổ nhiễm trùng chứa mủ trong phổi thông với khoang màng phổi, khiến mủ lan vào khoang này.
Khác với tràn dịch màng phổi thông thường, khi dịch đã hóa mủ, chỉ dùng thuốc kháng sinh thường không đủ để giải quyết ổ nhiễm trùng. Mủ cần được đưa ra khỏi khoang màng phổi để giảm lượng vi khuẩn và giúp phổi có điều kiện hồi phục. Nếu không được dẫn lưu phù hợp, mủ có thể tồn đọng, đặc lại và hình thành các khoang khu trú, khiến việc điều trị khó khăn hơn.
Sau hội chẩn với chuyên khoa Ngoại Lồng ngực – Mạch máu, các bác sĩ quyết định dẫn lưu màng phổi cấp cứu. Người bệnh được chuyển phòng mổ và thực hiện dẫn lưu khoang màng phổi phải. Sau thủ thuật, ống dẫn lưu tiếp tục hoạt động, giúp đưa dịch nhiễm trùng ra ngoài.

Song song với dẫn lưu, người bệnh được điều trị kháng sinh và tưới rửa khoang màng phổi qua ống dẫn lưu. Việc tưới rửa nhằm hỗ trợ loại bỏ dịch viêm, mủ và các chất cặn còn tồn đọng trong khoang màng phổi. Những ngày sau đó, người bệnh không còn sốt, hô hấp ổn định hơn và có thể tự thở.
Kết quả nuôi cấy dịch cho thấy vi khuẩn Staphylococcus aureus. Từ kết quả này, phác đồ kháng sinh được điều chỉnh, đồng thời tiếp tục tưới rửa màng phổi. Đây là một bước quan trọng trong điều trị nhiễm trùng vì việc xác định loại vi khuẩn và mức độ nhạy cảm với thuốc giúp bác sĩ lựa chọn kháng sinh phù hợp hơn.
Trong quá trình điều trị, lượng dịch và tình trạng khoang màng phổi được theo dõi hằng ngày. Tần suất tưới rửa được điều chỉnh theo diễn biến. Người bệnh đồng thời được tập vật lý trị liệu hô hấp nhằm hỗ trợ phục hồi chức năng phổi sau giai đoạn nhiễm trùng và dẫn lưu.
Sau 9 ngày điều trị, người bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt, không sốt, thở êm bằng khí trời, khả năng ăn uống cải thiện. Bác sĩ cho xuất viện, tiếp tục dùng thuốc theo toa và tái khám theo lịch. Người bệnh được dặn theo dõi các dấu hiệu bất thường như đau ngực, khó thở, sốt hoặc vết mổ chảy dịch.
Theo bác sĩ Long, viêm mủ màng phổi thường là biến chứng của nhiễm trùng ở phổi hoặc các cấu trúc lân cận. Người bệnh có thể khởi đầu bằng những biểu hiện tương đối giống viêm phổi như sốt, ho, đau ngực, khó thở. Khi dịch nhiễm trùng tích tụ nhiều trong khoang màng phổi, tình trạng khó thở có thể tăng lên do phổi bị chèn ép.
Đau ngực do tổn thương màng phổi thường có đặc điểm tăng khi hít sâu hoặc ho. Tuy nhiên, triệu chứng này không đặc hiệu và có thể xuất hiện trong nhiều bệnh lý khác. Vì vậy, trường hợp đau ngực kéo dài, kèm sốt, khó thở hoặc mệt nhiều cần được thăm khám tại cơ sở y tế để xác định nguyên nhân thay vì chỉ điều trị triệu chứng tại nhà.
*Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH