Đau cổ vai gáy suốt 7 năm chữa nhiều cách không khỏi, bà Vinh, 60 tuổi, đi khám tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh bác sĩ chẩn đoán hẹp động mạch đốt sống, cần can thiệp đặt stent.

Bà Vinh cho biết bị đau cổ vai gáy kéo dài nhiều năm, nhưng khám sức khỏe định kỳ không phát hiện bất thường. Bà tìm nhiều cách trị liệu như massage thường xuyên, đăng ký khóa học các tư thế tốt cho xương khớp, sử dụng bộ gối ngủ chuyên dụng nhưng chỉ có hiệu quả tức thời, chất lượng giấc ngủ kém.
Năm ngoái, bà đột ngột chóng mặt, nôn ói sau khi ngủ dậy nên đi tầm soát đột quỵ, được chẩn đoán thiếu máu não không rõ nguyên nhân. Tình trạng này tái phát hai lần, bà đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM khám chuyên khoa. Kết quả chụp CT ghi nhận lỗ xuất phát của động mạch đốt sống trái gần như tắc hoàn toàn, hẹp nhẹ động mạch dưới đòn trái.
Theo GS.TS.BS Võ Thành Nhân, Giám đốc Trung tâm Tim mạch Can Thiệp, hẹp động mạch đốt sống là tình trạng lòng động mạch đốt sống (một trong hai hệ thống động mạch chính nằm sau cổ, đi lên não) bị thu hẹp, làm giảm lượng máu cung cấp cho vùng não sau như tiểu não, thân não. “Nếu không can thiệp kịp thời, người bệnh có nguy cơ cao đột quỵ đe dọa tính mạng, hoặc để lại di chứng lâu dài như liệt, đau đầu mạn tính, rối loạn giấc ngủ, suy giảm trí nhớ…”, Giáo sư Nhân cho biết.
Do tổn thương nằm ở vị trí giải phẫu gấp khúc khó can thiệp, êkíp bác sĩ lên kế hoạch dự phòng các kịch bản có thể xảy ra. Theo Giáo sư Võ Thành Nhân, lỗ xuất phát nằm ngay tại vị trí động mạch đốt sống tách ra từ động mạch dưới đòn, đặt stent phải đảm bảo che phủ toàn bộ tổn thương mà không cản trở dòng máu vào động mạch dưới đòn hoặc các nhánh khác. Nếu đặt stent ở lỗ xuất phát của động mạch đốt sống đẩy mảng xơ vữa đến vị trí tổn thương động mạch dưới đòn trái, thì cần đặt thêm stent ở vị trí này.
Để tiếp cận động mạch đốt sống trái, thông thường bác sĩ luồn dụng cụ từ động mạch đùi đi lên. Tuy nhiên, đường đi này bị cản trở bởi tổn thương ở động mạch dưới đòn trái, nguy cơ ống thông chạm vào chỗ hẹp gây biến chứng. Êkíp quyết định tiếp cận từ động mạch quay trái dưới hướng dẫn của máy chụp mạch máu số hóa xóa nền DSA, đưa ống thông đến lỗ xuất phát của động mạch đốt sống.
Trước khi nong và đặt stent, êkíp triển khai dụng cụ bảo vệ não phía trên chỗ hẹp để ngăn các mảnh xơ vữa vỡ ra, di chuyển lên não. Bác sĩ canh chính xác vị trí tổn thương để cố định stent, tránh stent di lệch.
Kết quả chụp mạch ngay sau can thiệp xác định stent nở hết, áp sát thành mạch, bao phủ hoàn toàn tổn thương, dòng máu lưu thông tốt, chỗ hẹp của động mạch dưới đòn trái không bị ảnh hưởng. “Tuy nhiên chỗ hẹp này có thể tiến triển theo thời gian, nếu hẹp nặng cần can thiệp đặt stent”, Giáo sư Nhân nhận định.
Hai ngày sau thủ thuật, sức khỏe bà Vinh ổn định, xuất viện tiếp tục điều trị nội khoa tối ưu và tái khám theo chỉ định.

Hẹp hoặc tắc động mạch đốt sống một hoặc hai bên gây giảm tưới máu động mạch, có thể dẫn đến một số triệu chứng của cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua tuần hoàn sau như chóng mặt, nhìn đôi, buồn nôn, rối loạn giọng nói, khó kiểm soát cử động tay chân. Các biến chứng bao gồm đau đầu, ngất xỉu, đột quỵ, liệt dây thần kinh sọ, nhồi máu tiểu não, ù tai…
Nguyên nhân gây hẹp động mạch đốt sống có thể gồm vôi hóa hoặc xơ vữa động mạch, tổn thương bóc tách, loạn sản xơ cơ, u xơ thần kinh, chèn ép xương bất thường vào mạch máu… Đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu là các yếu tố nguy cơ phổ biến. Phương pháp điều trị hẹp động mạch đốt sống phụ thuộc mức độ hẹp, triệu chứng, bao gồm điều trị nội khoa, can thiệp đặt stent hoặc phẫu thuật.
Giáo sư Nhân khuyến nghị người bệnh có các biểu hiện như chóng mặt, đau đầu vùng gáy, nhìn mờ, tê bì chân tay hoặc rối loạn thăng bằng nên khám chuyên khoa thần kinh hoặc tim mạch để bác sĩ chẩn đoán kịp thời. Phát hiện và điều trị sớm là chìa khóa để ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm như đột quỵ.
*Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH