
Phân biệt thấp khớp, thấp khớp cấp và viêm khớp dạng thấp cấp rất quan trọng trong chẩn đoán và điều trị. Bởi đây là những bệnh lý có tên gọi dễ nhầm lẫn nhưng không giống nhau về nguyên nhân và cơ chế gây bệnh. Vậy, những bệnh này khác nhau như thế nào?

Viêm khớp dạng thấp (RA), thấp khớp và thấp khớp cấp (ARF) có tên gọi tương tự nhưng không giống nhau. Đây là 3 bệnh lý xương khớp khác nhau về nguyên nhân, cơ chế hình thành, triệu chứng và cách điều trị. Phân biệt viêm khớp dạng thấp và thấp khớp, thấp khớp cấp giúp bác sĩ chẩn đoán chính xác nhất, từ đó đưa ra phác đồ điều trị thích hợp, hạn chế tình trạng bệnh tiến triển nặng hơn.

So sánh viêm khớp dạng thấp và thấp khớp, thấp khớp cấp hỗ trợ chẩn đoán và điều trị hiệu quả
Thấp khớp, thấp khớp cấp và viêm khớp dạng thấp có thể được phân biệt qua những tiêu chí như: (1)
|
Tiêu chí |
Viêm khớp dạng thấp |
Thấp khớp |
Thấp khớp cấp (Sốt thấp khớp) |
|
Khái niệm |
Đây là một bệnh lý tự miễn, xảy ra khi hệ miễn dịch của cơ thể tấn công nhầm lớp màng hoạt dịch, dẫn đến sưng viêm ở khớp tổn thương. Bệnh thường ảnh hưởng đến các khớp nhỏ như khớp ngón tay và ngón chân đầu tiên. Các triệu chứng có xu hướng xảy ra ở khớp đối xứng. |
Thấp khớp (rheumatism) không phải một bệnh lý cụ thể mà là khái niệm chung chỉ những rối loạn liên quan đến cơ xương khớp. Tuy nhiên, thuật ngữ này hiện không còn phổ biến trong y khoa và chỉ xuất hiện trong cách nói dân gian để chỉ về các bệnh xương khớp. |
Bệnh còn được gọi với tên khác là thấp tim. Đây là biến chứng của bệnh viêm họng hoặc sốt ban đỏ do nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết β nhóm A, dẫn đến sưng viêm khớp, tim và những cơ quan khác. Bệnh gây ra những triệu chứng phổ biến như sưng đau khớp (thường gặp ở khớp gối, mắt cá chân và khuỷu tay), chuyển động tay chân không kiểm soát (múa giật), sưng amidan, đau ngực, nhịp tim bất thường… |
|
Phạm vi |
RA chỉ chính xác một bệnh lý cụ thể. |
Đây là từ dân gian dùng để chỉ những bệnh lý liên quan đến cơ xương khớp như RA, lupus ban đỏ, bệnh gout… |
ARF là một bệnh lý cụ thể tiến triển từ viêm họng hoặc sốt ban đỏ do nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết β nhóm A. |
|
Nguyên nhân |
Nguyên nhân cụ thể gây RA vẫn chưa được xác định. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng quá trình hình thành bệnh có liên quan đến di truyền, sự thay đổi hormone và các yếu tố môi trường. Vì một lý do nào đó, hệ miễn dịch gặp vấn đề và tấn công nhầm lớp màng hoạt dịch bao quanh khớp, dẫn đến viêm và phá hủy khớp. |
Nguyên nhân phụ thuộc vào bệnh lý cụ thể. Những nguyên nhân thường gặp có thể gồm chấn thương, lão hóa, nhiễm trùng, rối loạn chuyển hóa, tác dụng phụ của thuốc… |
Viêm họng hoặc sốt ban đỏ do liên cầu khuẩn tan huyết β nhóm A không được điều trị kịp thời có thể khiến hệ miễn dịch phản ứng quá mức và tấn công các mô lành của cơ thể. Hậu quả gây ra tình trạng viêm, chủ yếu là viêm cơ tim (50 – 78%), viêm khớp (35 – 88%), múa giật (2 – 19%), ban đỏ vòng (dưới 6%) và các nốt dưới da (1 – 13%) |
|
Đối tượng thường gặp |
Những đối tượng có nguy cơ cao mắc viêm khớp dạng thấp có thể gồm:
|
Bất cứ ai cũng có khả năng mắc bệnh tùy theo bệnh cụ thể. Trong đó, người cao tuổi là đối tượng dễ bị thấp khớp do xương khớp lão hóa theo thời gian. |
Những đối tượng có nguy cơ cao mắc sốt thấp khớp có thể gồm:
|
|
Cơ chế tổn thương |
Hệ thống miễn dịch của cơ thể gặp vấn đề và rối loạn, tấn công nhầm lớp màng hoạt dịch và gây viêm. Tình trạng viêm không được kiểm soát có thể làm tổn thương sụn và bào mòn xương, gây đau nhức, sưng đỏ, cứng khớp, biến dạng khớp và sốt. Bệnh chủ yếu tác động đến các khớp đối xứng và có thể xảy ra ở nhiều khớp cùng lúc. Một số ít trường hợp biểu hiện ở 1 khớp hoặc 1 vài khớp. Nghiêm trọng hơn, RA còn tác động đến những cơ quan khác như da, mắt, tim, phổi… |
Cơ chế tổn thương tùy theo bệnh lý cụ thể. |
Liên cầu khuẩn nhóm A xâm nhập vào cơ thể kích thích hệ thống miễn dịch sản xuất kháng nguyên để chống lại vi khuẩn, gây phản ứng chéo và tấn công nhầm các mô khỏe mạnh ở tim, khớp, da và hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên, vi khuẩn ở hầu họng có khả năng gây bệnh cao hơn so với ở da. |
|
Chẩn đoán |
Sau khi thăm khám lâm sàng, nếu nghi ngờ mắc viêm khớp dạng thấp, bác sĩ có thể chỉ định những phương pháp cận lâm sàng như:
|
Tùy theo triệu chứng cụ thể, bác sĩ sẽ chỉ định những phương pháp cận lâm sàng phù hợp. |
Sau khi thăm khám lâm sàng, nếu nghi ngờ mắc sốt thấp khớp, bác sĩ có thể chỉ định những phương pháp cận lâm sàng như:
|
|
Điều trị |
Viêm khớp dạng thấp không thể chữa khỏi hoàn toàn. Mục tiêu điều trị là làm chậm hoặc ngăn chặn tổn thương khớp, từ đó giảm sưng đau khớp, duy trì và cải thiện chức năng vận động, nâng cao chất lượng cuộc sống. Tùy theo trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định những phương pháp như:
|
Tùy theo bệnh lý được chẩn đoán, bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp điều trị phù hợp. |
Điều trị ARF trước hết tập trung loại bỏ liên cầu khuẩn nhóm A, kế đến kiểm soát triệu chứng và giảm viêm để phòng tránh tái phát. Những phương pháp điều trị có thể gồm:
|
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Phân biệt thấp khớp, thấp khớp cấp và viêm khớp dạng thấp giúp xây dựng phương án điều trị thích hợp, hạn chế biến chứng nguy hiểm. Nếu khớp bị đau nhức, sưng đỏ, cứng khớp và những dấu hiệu bất thường khác, người bệnh nên thăm khám chuyên khoa xương khớp càng sớm càng tốt. Bác sĩ sẽ áp dụng các biện pháp lâm sàng và cận lâm sàng phù hợp để chẩn đoán chính xác nhất và tư vấn phác đồ điều trị tối ưu.
Szczygielska, I., Hernik, E., Kołodziejczyk, B., Gazda, A., Maślińska, M., & Gietka, P. (2018). Rheumatic fever – new diagnostic criteria. Reumatologia/Rheumatology, 56(1), 37–41. https://doi.org/10.5114/reum.2018.74748