Bầu ăn tôm được không là thắc mắc của nhiều mẹ khi muốn bổ sung hải sản vào thực đơn nhưng lo ngại ảnh hưởng đến thai kỳ. Tôm chứa protein cùng nhiều vitamin và khoáng chất cần thiết, đồng thời thuộc nhóm hải sản có hàm lượng thủy ngân thấp. Tuy nhiên, mẹ vẫn cần chú ý lượng ăn, nguồn gốc thực phẩm và cách chế biến để hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn. Vậy mẹ bầu nên ăn tôm thế nào để vừa bổ sung dinh dưỡng vừa đảm bảo an toàn?

Bà bầu ăn tôm được, với điều kiện tôm được nấu chín kỹ, có nguồn gốc rõ ràng và ăn với lượng hợp lý. Trường hợp cần tránh rõ ràng nhất là mẹ đã biết mình dị ứng tôm hoặc các loại giáp xác.
Tôm cung cấp đạm chất lượng cao cùng selen, i-ốt, vitamin B12, choline và một lượng omega-3 DHA, EPA. Tôm cũng thuộc nhóm hải sản ít thủy ngân: trong hướng dẫn của FDA và EPA, tôm nằm trong danh sách “Lựa chọn tốt nhất” cho người đang mang thai. Mẹ chỉ nên ăn tôm đã nấu chín, tránh tôm sống, tôm tái hay gỏi tôm để phòng nhiễm khuẩn và ký sinh trùng.
Thực tế, tôm có thể là một phần của chế độ ăn lành mạnh trong thai kỳ. Điều quan trọng là mẹ biết tôm mang lại dưỡng chất gì, rủi ro nằm ở đâu và nên ăn thế nào cho an toàn.

Lợi ích của tôm đến từ việc cung cấp cùng lúc nhiều dưỡng chất mà nhu cầu tăng lên khi mang thai. Tôm phát huy giá trị tốt nhất khi nằm trong một thực đơn đa dạng và không thay thế cho các loại vi chất bổ sung được bác sĩ chỉ định.
Omega-3, đặc biệt là DHA, là dưỡng chất quan trọng cho sự tăng trưởng của thai nhi, nhất là quá trình phát triển não và mắt. Theo tổng hợp của Văn phòng Thực phẩm bổ sung thuộc Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH ODS), hải sản là nguồn DHA và EPA tốt nhất, và việc ăn hải sản khi mang thai có liên quan đến các chỉ số phát triển nhận thức thuận lợi hơn ở trẻ nhỏ.
Tôm có chứa DHA và EPA, nhưng hàm lượng thấp hơn các loại cá béo như cá hồi, cá mòi. Vì vậy, mẹ nên xem tôm là một lựa chọn trong nhóm hải sản đa dạng, đồng thời kết hợp thêm cá béo ít thủy ngân để tăng lượng omega-3.
Tôm, cũng như các thực phẩm nguồn gốc động vật khác, còn cung cấp choline. Choline tham gia cấu tạo màng tế bào, sản xuất chất dẫn truyền thần kinh và hỗ trợ phát triển não giai đoạn sớm. Nhu cầu choline tăng lên 450 mg/ngày khi mang thai, trong khi số liệu khảo sát tại Mỹ cho thấy chỉ khoảng 7,7% thai phụ ăn đạt mức này.
Tôm là thực phẩm giàu selen. Theo bảng số liệu của NIH ODS, 85 g tôm nấu chín cung cấp khoảng 42 mcg selen, tương đương 70% nhu cầu 60 mcg/ngày của thai phụ. Selen là thành phần của nhiều selenoprotein, nhóm protein giúp bảo vệ tế bào trước tổn thương oxy hóa và tham gia vào khả năng chống lại nhiễm trùng của cơ thể.
Bên cạnh selen, tôm cung cấp đạm, nguyên liệu cơ thể cần để tạo kháng thể và các tế bào miễn dịch. Lợi ích này có được khi tôm giúp mẹ đáp ứng đủ nhu cầu dưỡng chất trong một chế độ ăn cân đối, vì vậy ăn tôm vừa phải, đều đặn có ý nghĩa hơn ăn thật nhiều trong một lần.
Là thực phẩm có nguồn gốc động vật, tôm chứa vitamin B12. Đây là vitamin giúp duy trì tế bào máu và tế bào thần kinh khỏe mạnh, đồng thời tham gia tạo DNA. Nhu cầu vitamin B12 tăng lên 2,6 mcg/ngày khi mang thai.
Khi thiếu vitamin B12, cơ thể không tạo được hồng cầu bình thường, dẫn đến thiếu máu hồng cầu to với biểu hiện mệt mỏi, yếu sức, da nhợt, tim đập nhanh. Thiếu kéo dài còn gây tê bì tay chân, giảm trí nhớ và có thể làm tổn thương thần kinh ngay cả khi chưa có thiếu máu. Ăn đều các thực phẩm chứa B12 như tôm, cá, thịt, trứng, sữa giúp phòng thiếu hụt do chế độ ăn.
Tôm cũng chứa sắt heme, dạng sắt từ thực phẩm động vật có khả năng hấp thu tốt hơn sắt từ thực vật. Tuy vậy, tôm không phải thực phẩm chủ lực để đáp ứng nhu cầu sắt 27 mg/ngày của thai phụ. Nếu mẹ có nguy cơ hoặc đã bị thiếu máu thiếu sắt, việc bổ sung sắt nên theo chỉ định của bác sĩ.
I-ốt là thành phần cấu tạo hormone tuyến giáp T3 và T4. Các hormone này điều hòa chuyển hóa và cần thiết cho sự phát triển xương, hệ thần kinh trung ương của thai nhi. Vì vậy, nhu cầu i-ốt khi mang thai tăng lên 220 mcg/ngày, so với 150 mcg/ngày ở phụ nữ không mang thai.
Thiếu i-ốt nặng trong thai kỳ có thể gây suy giáp bẩm sinh (trước đây gọi là chứng đần độn), để lại tổn thương trí tuệ không hồi phục, chậm lớn và nhiều bất thường thể chất. Ngay cả thiếu i-ốt mức nhẹ đến vừa cũng đáng lưu ý: một phân tích gộp trên hơn 6.000 cặp mẹ con ghi nhận trẻ có chỉ số IQ ngôn ngữ thấp hơn khi mẹ có tình trạng i-ốt thấp trong 3 tháng đầu.
Tôm là một nguồn i-ốt tự nhiên. Theo số liệu của NIH ODS, 85 g tôm nấu chín cung cấp khoảng 13 mcg i-ốt. Tôm còn giàu selen, khoáng chất tham gia chuyển T4 thành T3, dạng hormone hoạt động. Tuy nhiên, lượng i-ốt từ tôm khá khiêm tốn, nên muối i-ốt và viên bổ sung theo tư vấn của bác sĩ vẫn là cách chính giúp mẹ đủ i-ốt.
Tôm giàu đạm nhưng chứa rất ít chất béo. Khi được hấp, luộc hoặc nấu canh, một phần tôm giúp bữa ăn đủ đạm mà không làm tăng nhiều năng lượng, phù hợp với mẹ bầu đang cần theo dõi mức tăng cân.
Thực phẩm giàu đạm thường tạo cảm giác no lâu hơn, giúp mẹ dễ hạn chế các món ăn vặt nhiều đường, nhiều béo giữa các bữa. Tuy nhiên, lợi ích này phụ thuộc lớn vào cách chế biến: tôm chiên bột, tôm rang nhiều mỡ hoặc chấm sốt bơ có thể làm năng lượng bữa ăn tăng đáng kể. Trong thai kỳ, mục tiêu là tăng cân hợp lý theo tư vấn của bác sĩ, không phải ăn kiêng để giảm cân.
Phần lớn rủi ro khi ăn tôm không nằm ở bản thân con tôm, mà đến từ cơ địa dị ứng của người ăn, cách chế biến và nguồn gốc sản phẩm.
Tôm thuộc nhóm giáp xác, nhóm gây ra nhiều phản ứng dị ứng nhất trong các loại động vật có vỏ. Dị ứng động vật có vỏ thường khởi phát ở tuổi trưởng thành và hay kéo dài suốt đời, nên người từng ăn tôm bình thường vẫn có khả năng bị dị ứng về sau.
Phản ứng dị ứng thường xuất hiện trong vài phút đến vài giờ sau khi ăn, với các biểu hiện có thể gặp như:
Sốc phản vệ là tình trạng cấp cứu. Nếu mẹ khó thở, sưng họng, choáng hoặc ngất sau khi ăn tôm, cần gọi cấp cứu hoặc đến cơ sở y tế gần nhất ngay.
Tôm sống hoặc chưa nấu chín có thể chứa vi khuẩn Vibrio. Theo CDC, phần lớn ca nhiễm Vibrio xảy ra sau khi ăn hải sản có vỏ sống hoặc chưa chín, và một tổng quan ghi nhận tôm nằm trong nhóm thực phẩm liên quan. Nhiễm Vibrio thường gây tiêu chảy, nôn, đau bụng; một số chủng có thể gây nhiễm trùng nặng.
Listeria là vi khuẩn khác cần đặc biệt lưu ý khi mang thai. CDC cho biết Listeria có thể truyền sang thai và gây hại ngay cả khi mẹ không thấy mệt nhiều; cứ 4 thai phụ mắc bệnh thì có 1 người mất thai hoặc mất con ngay sau sinh. Các biến chứng được ghi nhận gồm sẩy thai, thai chết lưu, sinh non và nhiễm trùng máu hoặc viêm màng não ở trẻ sơ sinh. Vì vậy, món tôm cần được nấu chín và bảo quản đúng cách.
Với tôm nước ngọt như tôm càng, còn có nguy cơ ký sinh trùng. CDC cho biết tôm nước ngọt có thể nhiễm ấu trùng giun phổi chuột Angiostrongylus cantonensis, loại ký sinh trùng có thể gây viêm màng não tăng bạch cầu ái toan ở người. Dù bằng chứng lây qua tôm chưa rõ ràng bằng qua ốc sên, CDC vẫn khuyến cáo không ăn tôm sống hoặc chưa nấu chín.
Mức độ tồn dư hóa chất phụ thuộc nhiều vào nguồn gốc tôm và cách sản xuất, bảo quản. Mỗi nhóm sản phẩm có điểm cần lưu ý riêng:
Khi chọn mua tôm, mẹ có thể dựa vào một số dấu hiệu sau:
Nguyên tắc quan trọng nhất là tôm phải được nấu chín hoàn toàn và bảo quản đúng cách sau khi nấu:
Một số món tôm phù hợp cho thai kỳ gồm tôm hấp sả, cháo tôm, canh tôm nấu rau củ và tôm xào cải bó xôi. Khi ăn cùng rau lá xanh, mẹ nên bổ sung thêm thực phẩm giàu vitamin C như cà chua, ớt chuông, bông cải xanh hoặc tráng miệng bằng cam, ổi, vì vitamin C giúp tăng hấp thu sắt không heme có trong rau.

Theo hướng dẫn của FDA và EPA, người đang mang thai nên ăn 2-3 khẩu phần mỗi tuần từ nhóm hải sản “Lựa chọn tốt nhất”, trong đó có tôm. Mỗi khẩu phần khoảng 113 g (4 ounce), tương đương cỡ lòng bàn tay; tổng cộng khoảng 227-340 g hải sản đa dạng mỗi tuần.
Con số này là tổng cho tất cả các loại cá và hải sản, không riêng tôm. Nếu tôm là hải sản duy nhất trong tuần, mẹ có thể ăn khoảng 2-3 bữa, mỗi bữa cỡ một lòng bàn tay. Nếu đã ăn cá trong tuần, cần tính chung vào tổng lượng này. Để bữa ăn cân đối, mẹ có thể:
Mẹ nên tránh ăn tôm hoặc hỏi ý kiến bác sĩ trước khi ăn trong các trường hợp sau:
Nếu mẹ không dị ứng tôm, hướng dẫn của EAACI không khuyến khích kiêng thực phẩm dễ gây dị ứng trong thai kỳ nhằm phòng dị ứng thức ăn cho con. Vì vậy, mẹ không cần bỏ tôm khỏi thực đơn chỉ vì lo con sau này bị dị ứng.
Trong thai kỳ, chế độ dinh dưỡng cần được điều chỉnh phù hợp với thể trạng, giai đoạn mang thai và các vấn đề sức khỏe của từng mẹ. Nếu còn băn khoăn bầu ăn tôm được không, lượng ăn bao nhiêu hoặc cách xây dựng thực đơn cân đối, mẹ có thể đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh để được bác sĩ thăm khám, đánh giá tình trạng sức khỏe và tư vấn dinh dưỡng phù hợp. Việc theo dõi thai kỳ định kỳ cũng giúp mẹ chủ động chăm sóc sức khỏe và nhận hướng dẫn cần thiết trong từng giai đoạn mang thai.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Như vậy, với thắc mắc bầu ăn tôm được không, mẹ có thể bổ sung tôm vào chế độ dinh dưỡng trong thai kỳ với lượng phù hợp. Tôm cung cấp protein cùng nhiều vitamin, khoáng chất cần thiết và có hàm lượng thủy ngân thấp. Để đảm bảo an toàn, mẹ nên chọn tôm tươi, có nguồn gốc rõ ràng, bảo quản đúng cách và nấu chín hoàn toàn trước khi ăn. Đồng thời, nên kết hợp đa dạng các loại thực phẩm để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng trong suốt thai kỳ.