Viên sỏi lớn từ trên thận rơi xuống niệu quản, gây tắc nghẽn dòng tiểu lâu ngày khiến thận của bà Hoàng ứ nước nghiêm trọng, phải phẫu thuật để tránh biến chứng nguy hiểm.

Bà Hoàng, 58 tuổi, ngụ TP.HCM, có tiền sử sỏi thận hai bên và sỏi niệu quản phải nhiều năm nhưng chỉ đau âm ỉ nên chủ quan không điều trị. Gần đây, xuất hiện cơn đau quặn thận, kéo dài nhiều ngày không thuyên giảm, bà đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM thăm khám. Kết quả cho thấy thận ứ nước độ 3 bên phải (mức độ nặng), chức năng thận suy giảm nghiêm trọng, có nguy cơ tiến triển suy thận nếu không can thiệp kịp thời.
“Viên sỏi niệu quản phải kích thước lớn, khoảng 22 mm, tồn tại lâu ngày là nguyên nhân gây tắc nghẽn dòng nước tiểu, khiến thận bị ứ nước nghiêm trọng”, ThS.BS.CKII Phạm Thanh Trúc, khoa Tiết niệu, Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa cho biết. Theo bác sĩ, trong trường hợp này cần ưu tiên xử lý sỏi niệu quản trước nhằm giải phóng tình trạng tắc nghẽn, giảm áp lực ứ nước lên thận.

Do niệu quản của người bệnh giãn, ngoằn ngoèo, gấp khúc bất thường và hẹp đường tiểu, các phương pháp tán sỏi ngược dòng theo đường tự nhiên không thể áp dụng. Bác sĩ Trúc và êkíp quyết định phẫu thuật nội soi vùng sau phúc mạc để lấy sỏi. Ca mổ được thực hiện qua ba lỗ trocar nhỏ ở vùng bụng, bác sĩ rạch niệu quản tại vị trí viên sỏi, lấy sỏi ra ngoài, sau đó khâu phục hồi niệu quản.
Sau khi kiểm soát tình trạng ứ nước ở thận, chức năng thận ổn định, một tháng sau, bà Hoàng tiếp tục được can thiệp điều trị sỏi ở cả hai thận bằng phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng bằng ống mềm. Bác sĩ sử dụng laser phá vỡ sỏi thành các mảnh nhỏ li ti và lấy ra ngoài, giúp làm sạch sỏi cho cả hai bên thận trong một lần can thiệp.
Toàn bộ sỏi của bà Hoàng sau phẫu thuật được đem phân tích thành phần nhằm xác định nguyên nhân hình thành sỏi, từ đó bác sĩ xây dựng chế độ theo dõi, chăm sóc và dự phòng phù hợp tránh tái phát sỏi. Theo bác sĩ Trúc, khoảng 50% người bệnh có nguy cơ tái phát sỏi trong vòng 5 năm nếu không kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ.

Sỏi tiết niệu hình thành khi nồng độ các chất khoáng như canxi, oxalat, axit uric trong nước tiểu tăng cao và ứ đọng, kết tinh thành sỏi. Sỏi thường xuất phát từ thận, sau đó rơi xuống niệu quản. Những viên sỏi nhỏ có thể không gây triệu chứng và tự đào thải theo đường tự nhiên. Tuy nhiên, sỏi kích thước lớn khó tự thoát ra ngoài, dễ gây tắc nghẽn dòng tiểu. Nếu trì hoãn điều trị, người bệnh có thể đối mặt với các biến chứng nguy hiểm như nhiễm khuẩn đường tiết niệu, thận ứ nước, tổn thương chức năng thận, thậm chí suy thận cấp hoặc mạn.
Theo bác sĩ Trúc, các yếu tố nguy cơ hình thành sỏi tiết niệu bao gồm thói quen uống ít nước, chế độ ăn nhiều muối, nhiều đạm động vật, thực phẩm giàu oxalat, nhịn tiểu thường xuyên. Ngoài ra, một số bệnh lý như bất thường bẩm sinh đường tiết niệu, rối loạn chuyển hóa (gout, đái tháo đường, cường cận giáp), tiền sử phẫu thuật cắt ruột hoặc yếu tố di truyền cũng làm tăng nguy cơ tạo sỏi.
Người mắc sỏi tiết niệu có thể xuất hiện các triệu chứng như đau âm ỉ hoặc đau quặn vùng thắt lưng, tiểu buốt, tiểu rắt, nước tiểu hồng, đỏ hoặc nâu sẫm, tiểu đục, có mủ khi nhiễm khuẩn, kèm sốt, ớn lạnh, buồn nôn, nôn. Bác sĩ khuyến cáo khi có các dấu hiệu trên, người bệnh cần đến bệnh viện để được thăm khám và điều trị kịp thời.
Để phòng ngừa sỏi tiết niệu, cần duy trì thói quen uống đủ nước mỗi ngày nhằm giúp nước tiểu được pha loãng, hạn chế sự kết tinh tạo sỏi. Chế độ ăn uống lành mạnh, cân đối, giảm muối, hạn chế đạm động vật và thực phẩm giàu oxalat, tăng cường rau xanh và trái cây. Không nên nhịn tiểu kéo dài vì làm nước tiểu cô đặc, tạo điều kiện cho sỏi phát triển. Vận động thể lực đều đặn, kiểm soát cân nặng và điều trị tốt các bệnh lý nền như rối loạn chuyển hóa, bệnh tuyến cận giáp hay bất thường đường tiết niệu. Người có tiền sử sỏi tiết niệu nên thăm khám định kỳ để phát hiện sớm sỏi tái phát.
*Tên người bệnh đã được thay đổi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH