Lợi, 5 tuổi, đau bụng ba ngày, đi khám phát hiện sỏi niệu quản kích thước 8 x 10 mm, gây thận ứ nước, được phẫu thuật nội soi ngược dòng tán sạch sỏi.
Kết quả chụp CT của Lợi tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM phát hiện một viên sỏi kích thước 8 x 10 mm đã rơi từ thận xuống niệu quản, nằm ở vị trí cao gần thận và gây ứ nước thận độ 1.
PGS.TS.BS Vũ Lê Chuyên, Giám đốc Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, cho biết sỏi hệ tiết niệu là bệnh lý thường gặp ở người lớn, song hiếm gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi. Theo một nghiên cứu tại Hoa Kỳ, số trẻ em mắc bệnh ở độ tuổi này chỉ chiếm khoảng 1-2% trong tổng số ca sỏi niệu quản nói chung. “Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, đây là trường hợp đầu tiên”, bác sĩ Hoan thông tin.
Sỏi thận ở trẻ em tiềm ẩn nguy cơ cao và diễn tiến nhanh hơn người lớn do cấu trúc đường tiết niệu của trẻ rất nhỏ và thận đang trong giai đoạn phát triển. Nếu không được điều trị kịp thời có thể gây tắc nghẽn và ứ nước, nhiễm trùng đường tiết niệu, sốc nhiễm trùng…
Trường hợp bé Lợi, viên sỏi có kích thước tương đối lớn so với đường tiết niệu của trẻ 5 tuổi, lại nằm trong niệu quản và đã bắt đầu cản trở dòng nước tiểu, nếu không can thiệp kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng tắc nghẽn kéo dài, ảnh hưởng đến chức năng thận đang phát triển của bé.
ThS.BS Nguyễn Trường Hoan, khoa Tiết niệu, trực tiếp tham gia mổ thông tin, trường hợp của Lợi có nhiều thách thức. Với sỏi nhỏ hoặc vừa ở trẻ em, bác sĩ thường ưu tiên tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL) để hạn chế can thiệp xâm lấn. Tuy nhiên, sỏi của Lợi đã rơi xuống niệu quản, nằm gần sát thận nên cần nội soi tán sỏi ngược dòng bằng laser để đảm bảo giải phóng bế tắc niệu quản triệt để nhất. Khi tán, sỏi và các mảnh vụn có xu hướng trôi ngược lên thận, đòi hỏi bác sĩ phải kiểm soát đường tiếp cận và xử lý sỏi phù hợp.
Trong khi đó, lòng niệu quản của trẻ 5 tuổi rất hẹp, nguy cơ ống soi không thể đưa vào hoặc gây tổn thương, rách, thủng niệu quản cao. Nếu thủ thuật thất bại, bệnh nhi có thể phải chuyển sang mổ nội soi sau phúc mạc, mức độ xâm lấn và biến chứng cao hơn, có thể dẫn đến hình thành mô sẹo, gây hẹp niệu quản về sau, ảnh hưởng đến sự lưu thông nước tiểu và chức năng thận của trẻ.
Với bé Lợi, êkíp phải chọn loại máy soi phối hợp cả hai loại ống soi cứng và mềm đường kính chỉ nhỉnh hơn 2 mm để có thể đưa vào niệu quản, đồng thời thao tác thận trọng, chính xác nhằm hạn chế ma sát, tổn thương thành niệu quản non yếu của trẻ.
Đầu tiên, bệnh nhi được gây mê đảm bảo kiểm soát đường thở và huyết động an toàn trong suốt thời gian thủ thuật. Do thể trạng và cơ quan hô hấp của trẻ nhỏ rất nhạy cảm, êkíp gây mê tính toán liều lượng thuốc, duy trì độ mê sâu ổn định và theo dõi sát các chỉ số sinh hiệu như huyết áp, nhịp tim, nồng độ oxy để đảm bảo không xảy ra phản xạ co thắt hay cử động ngoài ý muốn.

Sau đó, bác sĩ bắt đầu đưa ống nội soi tiếp cận ngược dòng qua đường tiểu tự nhiên mà không cần rạch bất kỳ vết mổ nào trên cơ thể. Khó khăn lớn nhất là đường kính niệu quản của trẻ nhỏ chỉ vài milimet, đòi hỏi thao tác của bác sĩ phải vô cùng khéo léo để đưa máy soi qua bàng quang lên niệu quản mà không làm tổn thương hay rách niêm mạc.
Sau khi tiếp cận được vị trí viên sỏi nằm sát bể thận, bác sĩ sử dụng máy soi cứng để tán vụn phần sỏi trong tầm với. Tuy nhiên, do áp lực nước và vị trí sỏi nằm quá cao, một số mảnh sỏi bắt đầu có xu hướng trôi ngược lên các đài thận. Ngay lập tức, bác sĩ Hoan chuyển sang ống nội soi mềm với khả năng uốn cong linh hoạt ở các góc gập, đi sâu vào từng ngóc ngách của đài thận để tiếp tục phát tia laser tán nhỏ hoàn toàn các mảnh sỏi còn lại.
Sau 60 phút, ca phẫu thuật thành công, bác sĩ đặt một ống thông JJ (stent niệu quản) để bảo đảm lưu thông nước tiểu thông suốt và giảm áp lực đường niệu cho bệnh nhi. Lợi được xuất viện sau hai ngày hậu phẫu.
Tháng 9/2026, bệnh nhi tái khám với PGS Chuyên sau hai tuần hậu phẫu, được rút ống JJ. Phó giáo sư tư vấn phụ huynh thực hiện xét nghiệm hormone tuyến cận giáp cho bé để tầm soát bệnh lý rối loạn chuyển hóa nhằm, xác định nguyên nhân gây bệnh, từ đó phòng ngừa nguy cơ tái phát.

Sỏi tiết niệu ở trẻ em được hình thành bởi các khối khoáng chất rắn hình thành tại thận, niệu quản, bàng quang hoặc niệu đạo của bệnh nhi. Phần lớn bệnh bắt nguồn từ các yếu tố rối loạn chuyển hóa, nội tiết hoặc dị tật đường tiểu bẩm sinh.
Khi nồng độ khoáng chất trong nước tiểu vượt ngưỡng hòa tan kết hợp tình trạng thiếu hụt các chất ức chế tự nhiên, các tinh thể siêu nhỏ sẽ nhanh chóng ngưng kết thành sỏi, dễ gây biến chứng tắc nghẽn nguy hiểm cho thận non nớt của trẻ.
Ở giai đoạn đầu, trẻ thường có biểu hiện giống các bệnh lý tiêu hóa như đau quặn từng cơn ở vùng hông lưng hoặc bụng dưới, buồn nôn và nôn ói khi sỏi kẹt trong niệu quản kích thích dây thần kinh vùng bụng. Đáng chú ý, trẻ nhỏ chưa đủ khả năng để mô tả cơn đau nên dễ bị nhầm lẫn.
Để phòng ngừa và ngăn bệnh tái phát, bác sĩ Hoan lưu ý phụ huynh cho trẻ uống đủ nước mỗi ngày, không nhịn tiểu, giảm lượng muối trong khẩu phần ăn, không tự ý bổ sung canxi hay vitamin D liều cao. Chủ động tầm soát chuyên sâu các bệnh lý chuyển hóa nền ngay khi trẻ có dấu hiệu bất thường về đường tiết niệu. Trường hợp có dị tật hoặc bất thường cấu trúc đường tiết niệu, trẻ cần được thăm khám sớm và điều trị phù hợp để hạn chế tình trạng ứ đọng nước tiểu, tạo điều kiện hình thành sỏi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH