Ông Phạm Hữu Năm (57 tuổi) được chẩn đoán hệ mạch vành tim tắc hẹp nhiều nơi, tổn thương nặng nề, chỉ định phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.

Trước đó, ông Năm không có dấu hiệu đau ngực hay khó thở, cảm thấy hoàn toàn bình thường. Ông thi thoảng mỏi cánh tay trái, khi hoạt động mạnh thấy toàn bộ vùng ngực căng tức nhưng nhanh chóng trở lại bình thường khi nghỉ ngơi.
Tháng 3/20225, ông Năm tới thăm khám sức khỏe tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội. Tại khoa Tim mạch, sau khi thực hiện thăm khám lâm sàng và các thăm dò chuyên sâu như siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính và chụp động mạch vành chọn lọc qua da…, bác sĩ phát hiện hệ động mạch vành của ông đã tổn thương nghiêm trọng.
TTND.PGS.TS.BS.CKII Nguyễn Hữu Ước, Trưởng khoa Phẫu thuật Tim, Mạch máu và Lồng ngực, cho biết kết quả thăm dò chức năng tim thất trái của ông Năm chỉ còn 45-50%, trong khi người bình thường là 65-70%. Hệ mạch vành xuất hiện nhiều mảng vôi hóa, hẹp và tắc nặng tại nhiều vị trí, trong đó có cả các đoạn tắc hoàn toàn mạn tính.
“Dù hệ mạch vành tổn thương rất nặng, ông Năm lại tự thích nghi tốt, gần như không có biểu hiện lâm sàng rõ ràng. Bệnh mạch vành do rối loạn chuyển hóa mỡ đã xuất phát từ sớm, diễn tiến âm thầm và khi bệnh nhân tới viện khám thì phát hiện đã muộn”, PGS Ước nhận định. Nếu trì hoãn không điều trị sớm, ông Năm có thể đối mặt với nhiều biến chứng nguy hiểm.
Tình trạng hẹp, tắc lan tỏa mạch vành khiến tim không được cấp máu đầy đủ, lâu ngày khiến suy tim tiến triển, nhồi máu cơ tim hoặc đột tử. Theo các nghiên cứu, khi chức năng tim đã giảm, việc trì hoãn điều trị sẽ khiến cơ tim tổn thương nặng hơn, giảm khả năng hồi phục và tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là rối loạn nhịp tim và ngưng tim đột ngột.

Đối với trường hợp ông Năm có 2 hướng điều trị là can thiệp đặt stent hoặc phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Phương pháp đặt stent có chỉ định rộng hơn và khá phổ biến hiện nay, thường áp dụng với các trường hợp hẹp tắc một vài nơi và đơn độc một vài đoạn ngắn.
Còn đối với những bệnh nhân có tổn thương lan tỏa nặng nề, việc mổ bắc cầu động mạch vành từ động mạch chủ đến các đoạn mạch còn thông là giải pháp cho hiệu quả cao và lâu dài. Trường hợp ông Năm có các đoạn tắc mãn tính, nhiều vị trí không còn khả năng tái thông bằng can thiệp, nhiều nơi có hẹp phức tạp. Bên cạnh đó, ông Năm chưa đến 60 tuổi, sức khỏe tốt, vẫn đáp ứng các điều kiện để trải qua cuộc mổ.
Hội động hội chẩn liên chuyên khoa đã phân tích và lựa chọn giải pháp phẫu thuật với nhiều ưu thế hơn trong tình huống này. Bác sĩ sẽ lấy mảnh ghép mạch máu khỏe mạnh khác trong cơ thể (thường là động mạch ở thành ngực, tay hoặc tĩnh mạch ở chân) để làm cầu nối giàu oxy bắc qua đoạn mạch bị tắc hẹp.
Trước phẫu thuật, bác sĩ phải xác định chính xác vị trí có thể bắc cầu mạch vành, nhưng với trường hợp ông Năm, việc này không hề đơn giản. Như động mạch liên thất trước gần như không hiện rõ trên các phim chụp mạch vành qua da.
Các bác sĩ phải phân tích tỉ mỉ từng lát cắt để tìm đoạn mạch phù hợp và cuối cùng phát hiện một lát cắt hiếm hoi có thể thấy được đoạn mạch sau chỗ tắc mạn, cho phép bắc cầu tái thông mạch. Khó khăn tiếp theo là cần lựa chọn động mạch vành phải hay nhánh động mạch xiên của động mạch liên thất trước để bắc cầu. Cả hai đều bị hẹp khá khít ở đoạn gốc nhưng mức độ không quá nặng.

Theo PGS Ước, có những tình huống không thể quyết định được từ trước mà phụ thuộc vào đánh giá trong mổ. Như trường hợp động mạch mũ của bệnh nhân, ban đầu sẽ dự định nối cầu vào thì trong mổ nhận thấy đoạn ngoại vi lại rất nhỏ, đường kính chỉ hơn 1 mm, nếu cố nối vào thì kỹ thuật rất khó thực hiện và nguy cơ tắc miệng nối ngay sau mổ rất cao. Sau khi cân nhắc lại, êkíp quyết định bỏ vị trí động mạch mũ và nối cầu vào cả hai nhánh động mạch vành phải và nhánh xiên của động mạch liên thất trước.
Tuy nhiên, vì các đoạn mạch này bị vôi hóa nhiều nên không thể thực hiện kỹ thuật theo cách thông thường, bác sĩ phải cẩn thận nạo bỏ phần vôi, sau đó mới tiến hành khâu nối, đảm bảo dòng máu lưu thông tốt.
Ca mổ kéo dài gần 8 tiếng. Sau 2 ngày nằm tại phòng hồi sức, ông Năm phục hồi tốt, được chuyển về phòng bệnh thường. Kết quả đánh giá lại chức năng tim sau mổ đã phục hồi lên 65%, tương đương người bình thường; tim co bóp tốt thể hiện phẫu thuật thành công, cầu nối hoạt động tốt. Vết mổ lành tốt, hơn 1 tuần sau mổ, người bệnh được xuất viện trong trạng thái sức khỏe ổn định.
Theo PGS.TS.BS Nguyễn Hữu Ước, phần lớn người mắc bệnh mạch vành chỉ đến bệnh viện khi xuất hiện triệu chứng rõ rệt như đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim, khó thở khi gắng sức hoặc trong tình trạng nghiêm trọng hơn như nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, một số trường hợp người bệnh thích nghi với tình trạng thiếu máu kéo dài, khiến tim suy yếu dần mà không biểu hiện triệu chứng rõ ràng. Họ vẫn cảm thấy gần như bình thường, dẫn đến việc không đi khám, bỏ qua giai đoạn phát hiện sớm.
Vì vậy, trong nhóm người cao tuổi bị suy tim, có một bộ phận mắc bệnh mạch vành nhưng chỉ được chẩn đoán khi tình trạng đã nặng. Trước thực tế này, bác sĩ khuyến cáo những người từ 40 tuổi trở lên, đặc biệt là sau tuổi 50, nên chủ động tầm soát tim mạch bằng các phương pháp như siêu âm tim, chụp cắt lớp vi tính động mạch vành, siêu âm Doppler mạch máu ngoại vi… để phát hiện tổn thương sớm và điều trị kịp thời, ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm.
Tùy theo mức độ bệnh, bác sĩ sẽ chỉ định hướng điều trị phù hợp. Trường hợp nhẹ (hẹp dưới 50%, thành mạch chưa vôi hóa nhiều), bệnh nhân thường được điều trị nội khoa bằng thuốc chống đông, giảm xơ vữa. Khi mạch vành hẹp nặng hơn, bác sĩ sẽ chỉ định chụp mạch vành qua da để đánh giá chi tiết, sau đó phần lớn sẽ được quyết định can thiệp bằng nong bóng, đặt stent – phương pháp ít xâm lấn, ít đau, hồi phục nhanh, đặc biệt phù hợp với những bệnh nhân tuổi cao, sức khỏe yếu.
Tuy nhiên, đây không phải ưu tiên cho mọi trường hợp bệnh nhân, với những tổn thương mạch phức tạp không thể đặt stent hiệu quả, và bệnh nhân đủ sức khỏe để mổ thì phẫu thuật bắc cầu động mạch vành sẽ được cân nhắc. Dù kết quả lâu dài của phẫu thuật thường tốt hơn, nhưng đây là can thiệp lớn, nguy cơ biến chứng trong tháng đầu sau mổ vẫn cao hơn so với đặt stent, do đó chỉ định cần rất thận trọng.
Theo thống kê, bệnh mạch vành một trong những nguyên nhân gây tử vong thường gặp trên toàn cầu. Năm 2022, toàn thế giới ghi nhận khoảng 315 triệu ca mắc bệnh mạch vành. Năm 2021, khoảng 9 triệu ca tử vong trên toàn cầu do bệnh thiếu máu cơ tim, chủ yếu xuất phát từ bệnh mạch vành, với nguy cơ cao mắc các biến chứng như nhồi máu cơ tim. Thống kê tại Hoa Kỳ, Khoảng 650.000 ca tái thông mạch được thực hiện hàng năm, bao gồm 450.000 ca can thiệp động mạch vành qua da và 200.000 ca phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH