Ông Samnang, 57 tuổi, quốc tịch Campuchia, sang TP.HCM khám sức khỏe tổng quát, công nghệ cao phát hiện hẹp nặng nhiều nhánh mạch vành, được can thiệp kịp thời.
Người bệnh có tiền sử đái tháo đường type 2, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, gan nhiễm mỡ độ II, từng đặt stent mạch vành cách đây 10 năm. Nhiều năm qua, ông Samnang duy trì điều trị nội khoa, sinh hoạt bình thường, thỉnh thoảng mệt khi lên hai tầng lầu. Gần đây, ông sang thăm người thân ở Việt Nam, được khuyến khích đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (cơ sở P.Tân Hưng, Q.7 cũ) để kiểm tra sức khỏe.
Bác sĩ CKI Phạm Thị Thu Thảo, khoa Nội Tổng hợp, cho biết kết quả xét nghiệm lipid máu chuyên sâu của người bệnh ghi nhận chỉ số Lipoprotein(a) – tác nhân thúc đẩy quá trình xơ vữa mạch máu – tăng 149,92 mg/dL, cao gần 5 lần ngưỡng khuyến cáo (dưới 30 mg/dL); CRP hs – chỉ số đánh giá mức độ viêm hệ thống trong cơ thể – tăng 5,1 mg/dL (bình thường < 1 mg/dL); đồng thời LDL cholesterol là 2.8 mmol/L. Nhận định đây là trường hợp chưa kiểm soát tốt tình trạng rối loạn lipid máu, bác sĩ chỉ định chụp cắt lớp vi tính (CT) động mạch vành có tiêm thuốc cản quang bằng hệ thống máy CT Somatom Force VB30 hơn 100.000 lát cắt để khảo sát trực tiếp cấu trúc mạch máu.
Kết quả chụp CT cho thấy hệ thống động mạch vành bị xơ vữa lan tỏa, nhiều vị trí hẹp trên 70%. Đoạn mạch đã đặt stent cách đây 10 năm tái hẹp khoảng 60%. Người bệnh còn có mảng xơ vữa tại gốc động mạch cảnh trong phải gây hẹp gần 40%, làm tăng nguy cơ thiếu máu não.

Theo bác sĩ Thảo, đây là trường hợp tái hẹp mạch vành trên nền đái tháo đường type 2 và tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và LDL cholesterol chưa được kiểm soát tốt theo khuyến cáo (mục tiêu đối với bệnh nhân này là LDL cholesterol < 1.4 mmol/L tương đương <55 mg/dL) mặc dù huyết áp và đường huyết đã được điều trị đạt mục tiêu.
Bác sĩ cho biết thêm, người mắc đái tháo đường có thể bị tổn thương thần kinh, khiến các triệu chứng cảnh báo thiếu máu cơ tim như đau ngực không điển hình hoặc không xuất hiện. Vì vậy, nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi tổn thương mạch vành đã tiến triển nặng. Nếu không được điều trị kịp thời, mảng xơ vữa có thể nứt vỡ, hình thành huyết khối gây nhồi máu cơ tim cấp, đột quỵ…
Sau khi hội chẩn với bác sĩ tim mạch can thiệp, ông Samnang được điều trị nội khoa tối ưu. Sau bốn tuần, các chỉ số sức khỏe ổn định, êkíp tiến hành can thiệp đặt stent mạch vành. Quá trình can thiệp diễn ra thuận lợi, không ghi nhận biến chứng. Người bệnh xuất viện và được hẹn tái khám, tiếp tục theo dõi định kỳ.
Theo bác sĩ Thảo, tình trạng tái hẹp mạch vành sau đặt stent có thể gặp ở bất kỳ người bệnh nào, song nguy cơ cao hơn ở người mắc đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu. Để giảm nguy cơ tái hẹp, người bệnh cần tuân thủ dùng thuốc điều trị theo phác đồ, kiểm soát tốt cân nặng, huyết áp, đường huyết, HbA1c, lipid máu nhằm đạt mục tiêu theo phân tầng nguy cơ tim mạch. Sau can thiệp, người bệnh cần duy trì lối sống lành mạnh, vận động thường xuyên, ăn uống hợp lý, đặc biệt cần bỏ thuốc lá và hạn chế rượu bia.
Bác sĩ khuyến cáo người có yếu tố nguy cơ như đái tháo đường, tăng huyết áp cần tầm soát sức khỏe định kỳ ngay cả khi không có triệu chứng. Việc tầm soát phối hợp giữa các xét nghiệm chuyên sâu và kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh công nghệ cao là giải pháp then chốt để phát hiện sớm các tổn thương thầm lặng, giúp người bệnh làm chủ sức khỏe, kịp thời can thiệp và ngăn ngừa các biến cố cấp tính.
*Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH