Chị Thắm, 39 tuổi, muốn có con thứ hai nhưng không thành, bác sĩ phát hiện vết mổ lấy thai trước đó khuyết sẹo, làm ứ dịch, gây vô sinh suốt 10 năm.

Chị Thắm, 39 tuổi, (quê Hưng Yên) sinh con trai đầu lòng bằng phương pháp mổ năm 2009. 5 năm sau, chị mang thai thêm hai lần nhưng liên tiếp thai lưu. Vợ chồng đến bệnh viện thăm khám, uống thuốc, làm thụ tinh nhân tạo (IUI) một lần, thụ tinh ống nghiệm (IVF) ba chu kỳ vẫn không đậu thai.
“Nhiều người khuyên bỏ cuộc vì đã có con trai, nhưng con trai khao khát có em, chúng tôi quyết tâm điều trị”, chị Thắm kể lại hôm 27/2.
Đến Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội (IVF Tâm Anh) tháng 8/2022, chị Thắm được TTND.PGS.TS.BS Lê Hoàng phát hiện vô sinh thứ phát do khuyết sẹo mổ lấy thai, có dịch buồng tử cung. Đây là tình trạng sẹo mổ lấy thai cũ không hồi phục hoàn toàn, để lại vết lõm trong buồng tử cung.

PGS Lê Hoàng giải thích sẹo làm cơ tử cung xung quanh co bóp kém, gây ứ máu và dịch, cản trở tinh trùng di chuyển qua cổ tử cung, giảm chất lượng tinh binh.
Khuyết sẹo mổ lấy thai cũng ảnh hưởng tới hiệu quả của thụ tinh ống nghiệm do dịch đọng trong lòng tử cung tạo độc tố ảnh hưởng đến phôi. Đồng thời chất nhầy cổ tử cung bị ảnh hưởng, giải phóng các yếu tố gây viêm khu trú tại vùng khuyết sẹo, khiến phôi làm tổ thất bại.
Ngoài ra, tình trạng viêm nhiễm do máu kinh và dịch tích tụ tại vùng khuyết có thể dẫn đến tắc vòi trứng, mang thai ngoài tử cung hoặc ngay tại vết mổ, sẩy thai, sinh non, tăng các nguy cơ tai biến sản khoa như rách hoặc vỡ tử cung, rau tiền đạo, rau cài răng lược. Trường hợp dịch nhầy chảy vào buồng tử cung như chị Thắm nếu không điều trị kịp thời có thể gây ảnh hưởng tới lớp niêm mạc tử cung.
Bác sĩ quyết định xử lý vết sẹo mổ trước khi chuyển phôi lần hai. Chị Thắm được phẫu thuật soi buồng tử cung, cắt lọc vùng khuyết sẹo, khâu phục hồi cơ tử cung.
Theo PGS Lê Hoàng, phẫu thuật này giúp làm đầy vùng khuyết, khép hai mép vết mổ, tạo kết dính ở vị trí hở, cải thiện đường chuyển phôi và môi trường tử cung, từ đó tăng khả năng thụ thai, giảm các nguy cơ tai biến sản khoa ở những lần mang thai sau này.
Sau mổ, bác sĩ kiểm tra đánh giá tử cung chị Thắm đủ điều kiện chuyển phôi. Tháng 2/2023, chị được chuyển một phôi tốt đã qua sàng lọc di truyền bình thường vào buồng tử cung, may mắn đậu thai.
Khi thai 24 tuần, chị bị tiểu đường thai kỳ, phải tiêm insulin liều cao mỗi ngày ba lần và tuân thủ chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt. Ngoài những cơn đau do hai bên đùi chi chít vết tiêm, chị còn stress kéo dài, lúc nào cũng lo lắng thai có vấn đề. Tháng 11/2023, vợ chồng hạnh phúc đón con gái khỏe mạnh chào đời ở tuần thai 38, trong sự hân hoan của gia đình hai bên và con trai đầu.
“Một thập kỷ tìm con gian nan, từng nghĩ không còn cơ hội có con, vợ chồng tôi lại được đón con lần nữa, nhà có nếp có tẻ”, chị Thắm chia sẻ khi ôm con gái trong lòng.


Theo PGS Lê Hoàng, khuyết sẹo mổ cũ (hay khuyết sẹo sau mổ lấy thai) là bệnh lý hay gặp sau mổ đẻ. Ước tính có khoảng 24-70% phụ nữ từng sinh mổ ít nhất một lần có khuyết sẹo vết mổ. Bệnh thường không bộc lộ triệu chứng. Một số người có thể đau vết mổ, đau vùng chậu, đau bụng kinh, rong kinh, ra máu bất thường…
Nguyên nhân gây khuyết sẹo mổ lấy thai có thể liên quan đến tiền sử mổ lấy thai nhiều lần làm cản trở quá trình tưới máu tới các mô tử cung, gây chậm liền sẹo; người mẹ chuyển dạ trước mổ lấy thai, thời gian chuyển dạ trên 5 giờ; tư thế tử cung bị gập sau, mổ khi tử cung mở trên 5cm. Vị trí vết mổ thấp, kỹ thuật mổ và khâu đóng cơ tử cung chưa phù hợp khiến hai mép vết mổ khâu không đều, các cạnh tử cung không liên kết chính xác, từ đó hình thành độ bám dính thấp và tạo sẹo khuyết.
Thai phụ béo phì, tiểu đường khi mang thai, người có tiền sử phẫu thuật tử cung do u xơ hoặc vách ngăn tử cung thể gặp nguy cơ vết thương không lành hoàn toàn ở vết mổ tử cung sau lần sinh mổ trước đó.
Có nhiều phương pháp chẩn đoán bệnh như siêu âm đường âm đạo, siêu âm bơm nước, chụp X-quang tử cung vòi trứng, chụp MRI, nội soi buồng tử cung. Phẫu thuật soi buồng tử cung sửa khuyết sẹo mổ cũ được xem là phương pháp điều trị bệnh tối ưu, mang lại hiệu quả cao hơn so với mổ nội soi ổ bụng và mổ sửa sẹo bằng đường âm đạo.
Theo PGS Lê Hoàng, ưu điểm của phương pháp này là thời gian mổ ngắn, ít tai biến, hiệu quả cải thiện tình trạng rong kinh đạt 80%, tỷ lệ giảm đau tại vết mổ 95%. Tử cung được khôi phục lại giải phẫu bình thường, ngăn chặn máu và dịch nhầy đến khoang nội mạc tử cung, từ đó tăng khả năng có thai đến 80-90% trong vòng 2 năm sau mổ.
Đây là một kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi bác sĩ có tay nghề cao, phòng mổ vô trùng tuyệt đối, trang thiết bị hiện đại, tránh các rủi ro có thể gặp phải như ảnh hưởng đến các tạng xung quanh, tổn thương tử cung lan rộng, biến chứng nhiễm trùng hậu phẫu… Tại IVF Tâm Anh, tỷ lệ phẫu thuật tạo hình vết mổ đẻ cũ thành công tương đương với tỷ lệ chung của thế giới, khoảng 60%.
Theo PGS Lê Hoàng, tỷ lệ mổ đẻ ở Việt Nam ngày càng nhiều khiến số lượng phụ nữ mắc bệnh lý khuyết sẹo mổ cũ gia tăng. Theo báo cáo của Bộ Y tế, tỷ lệ mổ lấy thai ở Việt Nam tăng liên tục trong 15 năm qua, từ 12% (năm 2005) đến 37% (năm 2022).
Phụ nữ sinh mổ có thể làm giảm khả năng mang thai tiếp theo trung bình 10% so với người sinh thường, PGS Lê Hoàng cho biết. Một nghiên cứu hồi cứu đăng trên Tạp chí Sản Phụ khoa Mỹ (2023) dựa trên 310 bệnh nhân cho thấy, tỷ lệ có thai ở người có tiền sử sinh mổ là 40,3%, thấp hơn so với những phụ nữ từng sinh thường với 54,8%.
Phụ nữ sinh mổ cũng ít có khả năng mang thai và sinh con thành công ngay cả khi điều trị hỗ trợ sinh sản. Nghiên cứu hồi cứu phân tích trên 1317 bệnh nhân sinh thường và sinh mổ trước khi thực hiện IVF cho thấy, tỷ lệ trẻ sinh ra khỏe mạnh ở nhóm đã sinh mổ trước đó là 15,9%, nhóm sinh thường là 23,3%. Trong khi số lượng và chất lượng phôi chuyển là tương đương.
PGS Lê Hoàng cho biết, tỷ lệ mổ đẻ gia tăng do nhiều nguyên nhân. Bên cạnh xu hướng chọn ngày giờ đẹp để sinh con, tỷ lệ lớn vợ chồng vô sinh hiếm muộn có con bằng các phương pháp hỗ trợ sinh sản như IUI, IVF cũng lựa chọn sinh mổ chủ động để đảm bảo an toàn.
Với những phụ nữ từng sinh con đầu lòng bằng phương pháp mổ, khi sinh con thứ 2, thứ 3 vẫn phải mổ. Những biến chứng chuyển dạ khó lường đôi khi tạo áp lực cho bệnh nhân và bác sĩ trong những trường hợp đẻ khó, không kiên trì chờ sinh thường mà chuyển sang đẻ mổ.
Đẻ mổ khiến cả mẹ và bé đối diện với nhiều nguy cơ sức khỏe. Ngoài tình trạng khuyết sẹo mổ lấy thai gây rong kinh, đau bụng kéo dài, vô sinh thứ phát, sản phụ còn có thể gặp các biến chứng sau mổ như chảy máu, dính ruột, tác dụng phụ của thuốc gây tê màng cứng, kéo dài thời gian hồi phục…
Nếu đã trải qua sinh mổ, những lần mang thai tiếp theo phụ nữ cũng có nguy cơ vỡ tử cung, đặc biệt trong những tháng cuối thai kỳ hoặc khi chuyển dạ. Sinh mổ có thể làm tăng nguy cơ phát triển các bệnh không lây nhiễm như hen suyễn, dị ứng thực phẩm, tiểu đường type 1, béo phì… ở trẻ sau này. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra trẻ sinh thường có hệ hô hấp, tiêu hóa và hệ miễn dịch hoạt động tốt hơn bé sinh mổ.
Theo khuyến cáo của WHO, tỷ lệ mổ lấy thai chỉ nên giới hạn dưới mức 15% để tránh tai biến nguy hiểm cho thai phụ và thai nhi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH