Anh Tiến (25 tuổi, TP.HCM) đi khám do ho kéo dài 2 tháng, phát hiện hoại tử phổi nặng kèm huỷ xương sườn số 7 do vi khuẩn lao, buộc phải phẫu thuật cắt bỏ một phần phổi.
“Đây là một ca phẫu thuật khó khăn và phức tạp”, PGS.TS.BS Vũ Hữu Vĩnh, Giám đốc Trung tâm Ngoại Lồng ngực – Mạch máu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (cơ sở P.Tân Sơn Hoà – Q.Tân Bình cũ) cho biết.
Theo PGS Vĩnh, phần thùy giữa phổi phải của người bệnh đã bị hoại tử toàn bộ, gây ra tắc nghẽn kéo dài không thể hồi phục, buộc phải can thiệp phẫu thuật mở thay vì phương pháp mổ nội soi.

Trước đó, anh Tiến xuất hiện triệu chứng ho đàm trắng, khàn tiếng, khó thở kéo dài trong 2 tháng, sốt nhẹ về chiều, sụt 9kg – đây là những triệu chứng điển hình của lao phổi. Người bệnh tự mua thuốc uống (không rõ loại) nhưng các triệu chứng không thuyên giảm nên quyết định đi khám bệnh tại hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, kết quả chụp X-quang và CT Scan phát hiện tổn thương dạng đông đặc ở phân thùy S3 và thùy giữa phổi phải, hạch trung thất hai bên, đồng thời ghi nhận tổn thương hủy xương sườn số 7 bên phải lan ra mô mềm kế cận.
TS.BS Chu Thị Hà, đơn vị Hô hấp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (cơ sở P.Tân Hưng – Q.7 cũ) cho biết đây là một ca bệnh đặc biệt, các kết quả PCR đa tác nhân (phát hiện 72 tác nhân gây bệnh, bao gồm vi khuẩn, vi nấm và virus) âm tính, vi khuẩn lao trực tiếp âm tính, phát hiện vi khuẩn lao dương tính khi thực hiện với kỹ thuật sinh học phân tử LPA (Line Probe Asay), kết quả giải phẫu bệnh mẫu sinh thiết tổn thương niêm mạc phế quản không xác định viêm lao, và tổn thương hạch trung thất bắt thuốc không đồng nhất, nên không loại trừ khả năng người bệnh có thêm bệnh đồng mắc khác. Vì vậy, các bác sĩ Hô hấp tiến hành hội chẩn với chuyên khoa Ngoại Lồng ngực – Mạch máu xét chỉ định can thiệp ngoại khoa chẩn đoán và điều trị triệt để.
PGS Vĩnh cho biết trường hợp này được xác định là hội chứng thùy giữa – tình trạng thứ phát do nhiều nguyên nhân gồm viêm nhiễm, ung thư hoặc vi khuẩn lao. Khối hạch viêm nằm sát phế quản thùy giữa vốn đã hẹp và có góc gập, nên rất dễ gây chèn ép từ bên ngoài. Hậu quả là luồng khí bị cản trở, dịch tiết không được dẫn lưu, dẫn đến xẹp thùy giữa kéo dài kèm viêm nhiễm tái diễn. PGS Vĩnh nói thêm tình trạng chèn ép và viêm hoại tử của người bệnh khiến cấu trúc phế quản bị biến dạng, hình thành giãn phế quản, làm mất chức năng thùy giữa, thậm chí đã chèn ép tới các nhánh tĩnh mạch, động mạch xung quanh màng tim.
“Vùng hoại tử đã lan tới cận gốc các mạch máu ở gần tim, khiến việc bóc tách thùy trên và thùy giữa trở nên khó khăn, đặc biệt nếu không khéo léo có thể làm rách các mạch máu quan trọng ở tim, gây ra biến chứng khó kiểm soát. Điều này đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kinh nghiệm xử lý rất cao”, PGS Vĩnh nói.

Theo PGS Vĩnh, với điều trị bảo tồn bằng các phương pháp nội khoa, tỷ lệ thành công có thể chiếm khoảng ⅓ song đòi hỏi phải phát hiện và chẩn đoán từ sớm. Do đó, với trường hợp của anh Tiến, phẫu thuật là phương án tốt nhất nhằm ngăn chặn tổn thương lan rộng sang vùng thùy trên và thùy dưới, phá huỷ toàn bộ phổi phải. “Thực tế, trong quá trình phẫu thuật, chúng tôi cũng đã phải cắt bỏ một phần tổn thương ở vùng thùy trên”, bác sĩ Vĩnh nói thêm.
Các kết quả sinh thiết lạnh kèm giải phẫu bệnh sau phẫu thuật đã loại trừ khả năng hoại tử do ung thư phổi, xác nhận chẩn đoán là viêm hoại tử phổi do vi khuẩn lao. “Viêm hoại tử phổi lan rộng do lao dẫn tới hội chứng thùy giữa thứ phát được ghi nhận rất nhiều trong y văn song ở thực tế lâm sàng thì khá hiếm gặp. Trong khoảng 40 năm hành nghề, tôi ước chừng chỉ gặp 4-5 ca”, PGS Vĩnh cho biết.
Theo bác sĩ Hà, sau khi loại bỏ phần thùy giữa bị tổn thương nặng, người bệnh sẽ tiếp tục được điều trị thuốc chống lao theo phác đồ. Điều quan trọng điều trị lao là chẩn đoán sớm và điều trị lao đúng phác đồ, tuân thủ đủ thời gian, không tự ý ngưng thuốc, đồng thời tầm soát và theo dõi các biến chứng đường thở để can thiệp kịp thời. Bác sĩ Hà nhấn mạnh việc phát hiện sớm và điều trị triệt để không chỉ giúp hạn chế di chứng cấu trúc phổi mà còn giảm nguy cơ lây lan trong cộng đồng.
Việc quản lý tốt nguồn lây bao gồm phát hiện sớm ca bệnh, tuân thủ các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm trong gia đình và cộng đồng, cũng như tái khám định kỳ sau điều trị đóng vai trò then chốt trong việc hạn chế biến chứng lâu dài và bảo vệ chức năng hô hấp cho người bệnh, bác sĩ Hà khuyến cáo thêm.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam hiện vẫn nằm trong nhóm 30 quốc gia có gánh nặng bệnh lao và lao kháng thuốc cao nhất toàn cầu, lần lượt đứng thứ 12 về số ca lao và thứ 10 về lao kháng thuốc. Ước tính mỗi năm cả nước có khoảng 180.000 – 184.000 ca lao mới, khoảng 9.400 ca lao kháng thuốc và khoảng 12.000 người tử vong vì lao. Tuy nhiên, gần 40% trường hợp mắc lao trong cộng đồng chưa được phát hiện hoặc chưa được báo cáo, khiến nguy cơ lây lan âm thầm vẫn rất lớn.
Bệnh lao hiện vẫn là một trong những bệnh truyền nhiễm gây tử vong hàng đầu tại Việt Nam, tạo áp lực kéo dài lên hệ thống y tế, đặc biệt ở tuyến cơ sở. Ngành y tế phải duy trì mạng lưới phòng chống lao trên toàn quốc, triển khai điều trị giám sát trực tiếp (DOTS), mở rộng xét nghiệm GeneXpert (kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử hiện đại) phát hiện lao và lao kháng thuốc, đồng thời tăng cường sàng lọc chủ động trong cộng đồng, nhà máy, trại giam và nhóm nguy cơ cao như người nhiễm HIV.
Hiện công tác điều trị lao kháng đa thuốc đã được triển khai thường quy tại 63 tỉnh, thành phố. Theo Chương trình Chống lao Quốc gia, năm 2025 Việt Nam phát hiện và đưa vào quản lý điều trị hơn 119.000 ca lao, mức cao nhất từ trước tới nay. Dù tỷ lệ điều trị thành công duy trì ở mức khoảng 90%, ngành y tế vẫn đối mặt nhiều thách thức như phát hiện muộn, bỏ điều trị, nguy cơ lao kháng thuốc gia tăng và thiếu nguồn lực tại nhiều địa phương. Bộ Y tế hiện định hướng lồng ghép sàng lọc lao vào khám sức khỏe định kỳ nhằm phát hiện sớm, giảm lây nhiễm và giảm gánh nặng điều trị trong những năm tới.
*Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH