Ông Vĩnh, 63 tuổi, đau chân nhiều tháng, đi khám phát hiện động mạch chậu chung bên trái hẹp nặng gây thiếu máu chân.

Trước đó hai tháng, ông Vĩnh (ngụ Q. Bình Thạnh TP HCM) đi lại vài bước hoặc leo vài bậc cầu thang là đau vùng bắp chân trái, nghỉ ngơi thì hết. Thỉnh thoảng ông bị vọp bẻ kèm cảm giác tê bì. Ông nghĩ đây là triệu chứng của bệnh xương khớp nên uống thuốc giảm đau, thuốc bổ khớp nhưng tình hình không cải thiện. Ông đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh thăm khám.
TS.BS Nguyễn Anh Dũng, Trưởng khoa Ngoại Tim mạch – Lồng ngực, Trung tâm Tim mạch cho biết, triệu chứng đau nhức, tê bì chân là biểu hiện của nhiều tình trạng bệnh như cột sống, thần kinh – cơ, mạch máu. Bệnh nhân đau khi đi lại, được khám lâm sàng bắt mạch chân phải rõ nhưng chân trái rất yếu, nghi ngờ nguyên nhân mạch máu nhiều hơn.
Ông Vĩnh được chỉ định siêu âm doppler mạch máu, sau đó chụp CT scan mạch máu. Bác sĩ phát hiện ông bị xơ vữa động mạch chủ bụng nhiều vị trí, riêng động mạch chậu chung bên trái hẹp rất nặng do vôi hóa lòng mạch. Đây là nguyên nhân khiến lưu lượng máu đến nuôi chân trái giảm nghiêm trọng, khiến ông đau cách hồi và nhức mỏi chân suốt mấy tháng nay.

BS.CKI Trần Quốc Hoài, khoa Ngoại Tim mạch – Lồng ngực, Trung tâm Tim mạch BVĐK Tâm Anh TP HCM thông tin, trước đây với những trường hợp hẹp động mạch chậu có triệu chứng, bác sĩ phải phẫu thuật bắc cầu mạch máu qua chỗ hẹp để dẫn dòng máu qua khỏi chỗ bị tắc nghẽn. Bệnh nhân phải trải qua cuộc mổ lớn phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ như chảy máu sau mổ, hình thành huyết khối, nhiễm trùng, quá trình hồi phục sau mổ lâu.
Hiện nay, tùy vào giải phẫu của tổn thương, bác sĩ ưu tiên lựa chọn kỹ thuật can thiệp nội mạch để điều trị hơn, vì có thể giải quyết tốt thương tổn, ít đau, hồi phục nhanh, và có thể ra viện trở lại hoạt động sớm hơn so với phẫu thuật.
Theo bác sĩ Dũng, trường hợp vôi hóa gây hẹp động mạch chậu như ông Vĩnh, nếu nong và đặt stent lưới như thông thường, mạch máu có thể bị nứt vỡ, và dòng máu sẽ thoát ra theo những khe lưới gây biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện kịp thời. Để đảm bảo an toàn, ê kíp chọn loại stent có màng bọc bên ngoài. Màng bọc này được làm bằng vật liệu nhân tạo, giống như vật liệu làm mạch máu nhân tạo trong phẫu thuật, giúp máu chỉ đi trong stent mà không thoát ra ngoài.
Trong thủ thuật chỉ chưa đầy 1 giờ, các bác sĩ đặt một stent có màng bọc (Covered Stent) ở vị trí hẹp. Màng bọc trở thành lá chắn ngăn máu thoát ra ngoài. Đoạn mạch tắc hẹp được tái thông, đưa máu xuống nuôi chi dưới dễ dàng.

Sau can thiệp một ngày, ông Vĩnh hết đau bắp chân, đi lại bình thường không còn cảm giác đau tê nữa. Nhờ tiến hành thủ thuật ít xâm lấn, ông không gặp biến chứng chảy máu, nhiễm trùng, xuất viện một ngày sau đó.

Động mạch chủ là mạch máu lớn nhất trong cơ thể, xuất phát từ tim rồi đi xuống ngực và bụng. Khi động mạch chủ đến vùng rốn sẽ tách ra để tạo thành hai nhánh động mạch chậu chung hai bên đưa máu xuống nuôi hai chân. Hẹp tắc động mạch chậu là bệnh lý động mạch ngoại biên, mảng xơ vữa tích tụ lâu ngày gây hẹp mạch máu. Theo thời gian, lòng động mạch bị thu hẹp dần gây ra tình trạng hẹp động mạch chậu mạn tính. Nếu một mảng xơ vữa bong tróc trôi xuống chân làm thuyên tắc động mạch bên dưới sẽ gây thiếu máu cấp tính nguy kịch cho chân.
Bác sĩ Hoài chia sẻ, hẹp động mạch chậu ít biểu hiện triệu chứng, nếu có thì thường là đau cách hồi khi đi lại, vọp bẻ, lâu ngày có thể có loét chân, hoại tử ngón chân… dễ khiến người bệnh nhầm lẫn với các bệnh lý khác như thoái hóa khớp, suy giãn tĩnh mạch chi dưới, bàn chân đái tháo đường… Nếu không kịp thời phát hiện và điều trị, bệnh dễ gây biến chứng hoại tử chân, nguy cơ phải đoạn chi.
Mặt khác, vì xơ vữa mạch máu là một bệnh hệ thống nên ngoài động mạch chậu bị hẹp, tất cả các mạch máu khác trong cơ thể cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng. Nếu động mạch nuôi tim bị tắc sẽ gây nhồi máu cơ tim, động mạch nuôi não tắc sẽ gây tai biến mạch máu não, động mạch thận tắc gây suy thận, tăng huyết áp… Các biến chứng này có thể dẫn tới tử vong.
Để giảm rủi ro mắc bệnh mạch máu ngoại biên, cần tránh xa thuốc lá, áp dụng chế độ ăn có lợi cho tim (ít chất béo bão hòa, ít muối và đường, nhiều rau, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt,…), tập thể dục thường xuyên, quản lý huyết áp, lượng đường trong máu và cholesterol máu.
*Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH