Bé gái tím tái nặng sau sinh do mắc dị tật chuyển vị đại động mạch, cần can thiệp ngay để tạo luồng thông giúp trộn máu, tránh nguy cơ tử vong.

Chị Minh, 35 tuổi, mang thai 18 tuần phát hiện thai nhi bị chuyển vị đại động mạch thể đơn thuần. Tại BVĐK Tâm Anh TP HCM, các bác sĩ liên chuyên khoa Sản, Sơ sinh và Tim mạch, theo dõi chặt chẽ suốt thai kỳ, lên phương án sẵn sàng can thiệp cứu trái tim cho em bé ngay khi chào đời.
Tối 20/4/2024, chị Minh chuyển dạ sinh thường khi thai nhi 38 tuần, bé gái chào đời nhẹ cân 2.5 kg, da tím tái nặng. Chỉ số SpO2 (oxy trong máu) tụt thấp 35%, phải tiến hành hồi sức ngay tại phòng sanh.
Sau khi được hỗ trợ hô hấp, bé ổn định, chỉ số SpO2 có sự chênh lệch rõ rệt giữa tay (45%) và chân (70-75%), chứng tỏ máu trộn tầng nhĩ không tốt dẫn tới thiếu oxy tim (luồng lưu thông máu trái – phải rất kém), não nhận được rất ít oxy. Đây là biểu hiện điển hình của dị tật chuyển vị đại động mạch.
BS.CKI Vũ Năng Phúc, Trưởng khoa Tim bẩm sinh, Trung tâm Tim mạch cho biết, chuyển vị đại động mạch là bệnh lý tim bẩm sinh hình thành từ trong thai kỳ. Thông thường, cơ thể có hai đại tuần hoàn. Tuần hoàn phổi đưa máu ít oxy từ tim phải (nhĩ phải – thất phải) qua động mạch phổi để lên phổi lấy oxy, và qua hệ thống mao mạch trở về tim trái. Và tuần hoàn chủ đưa máu giàu oxy từ tim trái (nhĩ trái – thất trái) qua động mạch chủ để đưa oxy và dinh dưỡng đi nuôi toàn bộ cơ thể. Hai đại tuần hoàn kết nối, thông thương với nhau qua hệ thống mao mạch.
Ở trẻ bị chuyển vị đại động mạch, hai động mạch xuất phát từ tim đổi vị trí cho nhau: động mạch phổi nối với tâm thất trái, động mạch chủ nối với tâm thất phải. Kết quả là máu nghèo oxy lại đi qua động mạch chủ nuôi cơ thể và quay lại chính tim phải mà không đi qua phổi để được lấy oxy. Trong khi đó, máu giàu oxy chảy qua bên trái của tim lại đi thẳng trở lên phổi qua động mạch phổi mà không được bơm đến phần còn lại của cơ thể.
Hai đại tuần hoàn của bé song song, không có sự kết nối, thông thương với nhau qua hệ thống mao mạch. Điều này trái ngược với hoạt động bình thường của tim. Bé sống được phụ thuộc hoàn toàn vào việc thông nối trực tiếp giữa hai đại tuần hoàn qua ống động mạch và thông liên nhĩ. Trong trường hợp này, thông thương giữa hai nhĩ rất hạn chế qua lỗ bầu dục gần như bít hoàn toàn. Trẻ thường tím rất nặng, đe dọa tính mạng nếu không được điều trị kịp thời.
Để tránh nguy cơ tử vong, bệnh nhi cần được can thiệp phá vách liên nhĩ bằng bóng (thủ thuật Rashkind) nhằm mở rộng tạo lỗ thông liên nhĩ kích thước vừa đủ, giúp hai luồng máu “xanh – đỏ” pha trộn dễ dàng, cải thiện độ bão hòa oxy động mạch toàn thân. “Đây là ca can thiệp tim nhỏ tuổi nhất tại hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh”, bác sĩ Phúc nói.

Hai giờ sau khi chào đời, bé gái (tên thân mật là Kay) bước vào ca thủ thuật đầu tiên trong đời. Bé được chuyển an toàn tới phòng thông tim bằng lống ấp, bảo đảm độ ấm trong quá trình di chuyển. Hệ thống sưởi trong phòng thông tim giúp trẻ duy trì nhiệt độ tối ưu.
Bác sĩ luồn ống thông có đầu bóng từ tĩnh mạch đùi đến tâm nhĩ trái. Bóng được bơm căng lên và rút đột ngột về tâm nhĩ phải, tạo ra lỗ thông trên vách liên nhĩ. “Thao tác bơm bóng trên trẻ sơ sinh cần cẩn trọng và chính xác, vì mạch máu rất nhỏ.
Nếu vị trí ống thông quá sâu, khi bơm bóng có thể làm vỡ tĩnh mạch phổi. Lúc rút bóng cũng không được quá mạnh vì có thể tổn thương tĩnh mạch chủ dưới”, bác sĩ Phúc cho biết. Sau 20 phút can thiệp, lỗ thông ở vách ngăn tâm nhĩ hình thành, giúp máu xanh và máu đỏ trộn lẫn dễ dàng, đưa oxy đến nuôi các cơ quan não, tay, chân… một cách đồng đều.
Siêu âm tim sau thủ thuật cho thấy lỗ thông liên nhĩ đạt kích thước 4 x 5.1 mm, máu trộn tốt. Chỉ số SpO2 ở tay đạt 80 – 85%, chân 90 – 95%. Bé Kay giảm hẳn tím tái, thở êm, tiếp tục được theo dõi tại khoa Hồi sức Tim mạch. Dự kiến trong vòng một tuần, khi sức khỏe bé ổn định sẽ được tiến hành phẫu thuật để đưa động mạch chủ và động mạch phổi về đúng vị trí: động mạch chủ gắn với tâm thất trái, động mạch phổi gắn với tâm thất phải và cắm lại động mạch vành nối với động mạch chủ.

Bác sĩ Phúc thông tin, chuyển vị đại động mạch là dị tật ít gặp với tỷ lệ 4.7 trên 10.000, chiếm 3% tổng số ca bệnh tim bẩm sinh. Việc điều trị phức tạp cần nguồn lực lớn nên hầu hết tập trung ở một số ít bệnh viện lớn.
Các yếu tố làm tăng nguy cơ khiến trẻ mắc bệnh bao gồm mẹ có tiền sử nhiễm rubella hoặc các bệnh lý nhiễm trùng khác do virus khi mang thai; thai phụ lạm dụng rượu bia, hút thuốc lá hoặc dùng một số loại thuốc; mẹ bị đái tháo đường thai kỳ không được kiểm soát.
Năm 1966, Rashkind và Miller đã mô tả một thủ thuật để tạo ra thông liên nhĩ, sử dụng ống thông có bóng. Kể từ đó, phá vách liên nhĩ vẫn là một phần không thể thiếu trong thông tim ở trẻ sơ sinh, ngay cả sau khi Jatene và cộng sự giới thiệu phẫu thuật chuyển đổi động mạch ở 1976.
Phá vách liên nhĩ là thủ thuật cấp cứu cho nhiều trường hợp bệnh tim bẩm sinh cần luồng thông tầng nhĩ để hòa trộn máu. Trong những tình huống như chuyển vị đại động mạch, hội chứng thiểu sản tim trái, hồi lưu bất thường tĩnh mạch phổi toàn phần, không lỗ van động mạch phổi vách liên thất kín,… khiến trẻ tím tái nặng sau sinh, mở luồng thông tầng nhĩ là thủ thuật cứu trẻ khỏi nguy cơ tử vong. Thủ thuật này được xem là tiền đề cho những ca mổ lớn của trẻ sau này.
Trẻ bị tật tim bẩm sinh chuyển vị đại động mạch cần được phẫu thuật một hoặc nhiều lần tùy theo từng trường hợp, nhằm sửa chữa đưa các động mạch về vị trí bình thường và dù đã được phẫu thuật rồi, trẻ vẫn cần được chăm sóc, theo dõi sức khỏe suốt đời.
Để giảm nguy cơ thai nhi bị chuyển vị đại động mạch nói riêng và dị tật tim bẩm sinh nói chung, phụ nữ nếu có tiền sử gia đình bị dị tật tim hoặc đã sinh em bé có khiếm khuyết tim bẩm sinh cần gặp bác sĩ chuyên về di truyền và tim mạch để được tư vấn trước khi mang thai. Bên cạnh đó khi có kế hoạch mang thai, nên tiêm vaccine trước ít nhất 6 tháng, bổ sung vitamin và axit folic, không hút thuốc lá, hạn chế rượu bia, kiểm soát chặt chẽ nếu phát hiện đái tháo đường thai kỳ.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH