Anh Hải, 40 tuổi, mắc viêm gan B mạn tính 20 năm, bất ngờ phát hiện ung thư gan, bác sĩ phẫu thuật nội soi cắt 3 phân thùy gan, loại bỏ hoàn toàn khối u.
Anh Hải cho biết, uống thuốc kháng virus 20 năm qua và kiểm tra sức khỏe định kỳ mỗi 3 tháng. Các chỉ số xét nghiệm trong giới hạn cho phép. Khoảng hai năm trước, siêu âm phát hiện một tổn thương nhỏ ở gan, kích thước khoảng 0,5 cm. Do hình ảnh gợi ý u máu lành tính, bác sĩ chỉ định theo dõi định kỳ mà chưa cần can thiệp.
Tuy nhiên, gần đây, anh nhận thấy cơ thể có nhiều dấu hiệu bất thường, kèm sụt 7 kg trong vòng hai tháng nên đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM kiểm tra chuyên sâu.
Tiến sĩ, bác sĩ Phạm Công Khánh, Trưởng khoa Gan – Mật – Tụy, Trung tâm Nội soi và Phẫu thuật Nội soi Tiêu hóa, cho biết kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) ghi nhận một khối tổn thương gần 3 cm tại phân thùy IV của gan. Khối u bắt thuốc mạnh ở thì động mạch và thải thuốc nhanh ở thì tĩnh mạch – hình ảnh điển hình của ung thư biểu mô tế bào gan.

Để xác định bản chất khối u, bác sĩ chỉ định sinh thiết gan. Kết quả giải phẫu bệnh xác nhận đây là ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) giai đoạn II.
“Ở giai đoạn này, khối u còn khu trú trong gan, chưa xâm lấn mạch máu lớn và chưa di căn xa. Nếu được phẫu thuật cắt gan với diện cắt an toàn, người bệnh có cơ hội điều trị triệt căn”, bác sĩ Khánh cho biết.
Sau hội chẩn, êkíp quyết định thực hiện phẫu thuật nội soi cắt 3 phân thùy gan II, III và IV để loại bỏ hoàn toàn khối u.
Theo bác sĩ Khánh, vị trí khối u nằm ở phân thùy IV, sát các nhánh mạch máu nuôi phân thùy II và III. Để đảm bảo diện cắt an toàn, tránh sót tế bào ung thư, phẫu thuật viên buộc phải thắt các nhánh mạch máu lớn tại gốc thùy gan trái, đồng nghĩa phải cắt bỏ thêm hai phân thùy gan lân cận. Đây là ca phẫu thuật phức tạp vì gan là cơ quan có hệ thống mạch máu dày đặc, bao gồm tĩnh mạch cửa, động mạch gan và các tĩnh mạch gan đổ về tĩnh mạch chủ dưới. Nhu mô gan lại mềm, dễ chảy máu. Khi cắt qua nhu mô, các mạch máu nhỏ có thể rách, gây chảy máu diện rộng và khó kiểm soát.
Để giảm thiểu nguy cơ, ê kíp sử dụng hệ thống nội soi 3D/4K tích hợp công nghệ huỳnh quang ICG, giúp quan sát cấu trúc mạch máu và đường mật rõ nét theo không gian ba chiều, định vị chính xác ranh giới khối u và vùng gan cần cắt bỏ. Nhờ đó, bác sĩ có thể kiểm soát tốt chảy máu trong quá trình cắt nhu mô gan, đồng thời nhận diện và xử lý các ống mật nhỏ ở diện cắt, hạn chế tình trạng rò mật sau mổ, ngăn ngừa nguy cơ viêm phúc mạc hoặc áp xe ổ bụng.

Ca mổ hoàn tất sau 4 giờ, khối u được lấy trọn, không xảy ra biến chứng trong mổ. Hậu phẫu, anh Hải hồi phục tốt, sau hai ngày đã có thể ăn uống nhẹ và đi lại. Chức năng gan ổn định, không có dấu hiệu suy gan – biến chứng đáng lo ngại sau cắt gan diện rộng.
Kết quả giải phẫu bệnh xác nhận ung thư biểu mô tế bào gan, diện cắt âm tính, không ghi nhận xâm lấn mạch máu hay thần kinh. Người bệnh chưa cần điều trị bổ sung như hóa trị hay xạ trị và theo dõi định kỳ.
Theo bác sĩ Khánh, người bệnh vẫn cần tiếp tục điều trị kháng virus viêm gan B đều đặn để kiểm soát sự nhân lên của virus, bảo vệ phần gan còn lại và giảm nguy cơ tái phát ung thư. Gan cũng là cơ quan duy nhất trong cơ thể có khả năng tái sinh mạnh mẽ. Sau khi cắt bỏ phần gan bệnh lý, phần gan còn lại sẽ tăng sinh để bù đắp chức năng. Tuy nhiên, quá trình này chỉ hiệu quả khi phần gan nền còn tốt và được kiểm soát các yếu tố nguy cơ như virus viêm gan.
Ung thư gan hiện là một trong những loại ung thư phổ biến và gây tử vong hàng đầu tại Việt Nam. Mỗi năm, nước ta ghi nhận khoảng 26.500 ca mắc mới và khoảng 25.000 ca tử vong. Bệnh thường tiến triển âm thầm, ít triệu chứng ở giai đoạn sớm nên thường phát hiện muộn, làm giảm cơ hội điều trị triệt căn.
Bác sĩ Khánh cho biết, ung thư gan không xuất hiện đột ngột mà là hậu quả của quá trình tổn thương gan kéo dài. Tình trạng viêm mạn tính dẫn đến xơ gan, sau đó là biến đổi gen trong tế bào gan và hình thành ung thư. Trong đó, viêm gan virus B và C là nguyên nhân chính, chiếm khoảng 80% trường hợp. Đặc biệt, virus viêm gan B có khả năng tích hợp DNA vào tế bào gan, gây đột biến và hình thành ung thư ngay cả khi người bệnh chưa bị xơ gan.
Vì vậy, người bệnh viêm gan B cần tuân thủ điều trị và tầm soát định kỳ. Các phương pháp tầm soát bao gồm siêu âm bụng, xét nghiệm alpha-fetoprotein (AFP) và đo độ đàn hồi gan, thực hiện mỗi 3-6 tháng. Việc phát hiện khối u ở giai đoạn sớm, khi kích thước còn nhỏ và chưa xâm lấn, giúp tăng đáng kể khả năng điều triệt căn bằng phẫu thuật hoặc các phương pháp can thiệp khác.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH