Chị Hà Thu, 33 tuổi, nhiều lần can thiệp buồng tử cung do sảy thai sớm, lưu thai, thai ngoài dạ con, gặp biến chứng dính buồng tử cung, gây hiếm muộn suốt 10 năm.

Chị Nguyễn Thị Hà Thu, ngụ Lạng Sơn, từng 3 lần có thai tự nhiên, một lần sảy thai sớm khi mới 5 tuần, một lần hút thai lưu 13 tuần. 5 năm sau, chị có thai trở lại nhưng nằm ngoài tử cung, phải mổ mở cắt vòi trứng trái. Cơ hội có thai tự nhiên mong manh.
Vợ chồng đi khám sức khỏe sinh sản nhiều nơi, uống nhiều thuốc nhưng không có kết quả. Cuối năm 2023, anh chị đến Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội (IVF Tâm Anh) khám. Bác sĩ chỉ định các thăm khám cận lâm sàng tìm nguyên nhân gây vô sinh hiếm muộn. Kết quả, chị Thu vô sinh thứ phát do dính buồng tử cung, tắc hai vòi trứng.
“Đây có thể là hậu quả của những lần can thiệp phẫu thuật trong buồng tử cung sau sảy thai, lưu thai”, PGS.TS.BS Lê Hoàng, Giám đốc Trung tâm IVF Tâm Anh nhận định. Đồng thời giải thích, nội mạc tử cung gồm 2 lớp, lớp nằm phía trên là lớp chức năng, lớp nằm phía dưới là lớp đáy. Thông thường vào mỗi chu kỳ kinh nguyệt, lớp chức năng sẽ bong ra và bị thải ra ngoài, gây hiện tượng hành kinh. Lớp đáy sẽ thực hiện nhiệm vụ tái tạo lại lớp nội mạc chức năng sau mỗi chu kỳ kinh.
Những can thiệp, phẫu thuật trong buồng tử cung như nạo hút thai, cắt polyp nội mạc tử cung, cắt vách ngăn buồng tử cung, bóc tách u xơ tử cung… nếu không thực hiện đúng kỹ thuật có thể làm tổn thương lớp đáy nội mạc tử cung. Điều này khiến thành tử cung ở hai mặt trước và sau dính lại với nhau, ảnh hưởng quá trình tái tạo lớp nội mạc chức năng.
Nếu thành tử cung phía trước và phía sau dính hoàn toàn vào nhau, lớp nội mạc chức năng không được tái tạo nên không thể bong ra, gây vô kinh. Trong trường hợp này, tinh trùng không thể gặp trứng để thụ thai, dẫn đến vô sinh thứ phát.
Nếu dính một phần, người bệnh thường đau bụng dưới sau can thiệp trong tử cung, thay đổi chu kỳ kinh nguyệt với số ngày hành kinh, lượng máu giảm. Mặc dù vẫn có thể mang thai, nhưng trứng đã thụ tinh khó vào được tử cung để làm tổ, dẫn tới nguy cơ thai ngoài tử cung.
Trường hợp phôi thai vào được tử cung thì không gian buồng tử cung và diện tích nội mạc tử cung bị giảm, dễ dẫn đến sảy thai. Bên cạnh đó, buồng tử cung bị dính cũng mất đi độ đàn hồi tự nhiên, khó đáp ứng được sự phát triển lớn dần của thai nhi, dễ sinh non. Sau sinh, nếu nhau thai bám quá chặt vào vị trí buồng tử cung không có lớp nội mạc có thể gây băng huyết ở mẹ.
Ngoài ra, nữ giới mắc lao sinh dục hoặc nhiễm trùng phụ khoa không điều trị triệt để cũng có thể bị dính buồng tử cung.

Kỹ thuật chụp tử cung vòi trứng hiện tại được xem là phương pháp tối ưu để chẩn đoán xác định bệnh. Việc điều trị tùy tình trạng, nếu tử cung dính nặng, người bệnh cần phẫu thuật tách dính để có thể mang thai. Nếu tình trạng dính kèm theo viêm nhiễm thì cần điều trị dứt điểm tình trạng viêm trước khi phẫu thuật.
Khả năng gỡ dính thành công và có thai tự nhiên trở lại sau 2-4 tháng can thiệp tùy thuộc vào mức độ tổn thương nội mạc tử cung. Theo Hiệp hội Y học Sinh sản Hoa Kỳ (ASRM), người bị dính nhẹ đến trung bình có tỷ lệ mang thai đủ tháng thành công khoảng 70-80%. Nếu dính nặng hoặc niêm mạc tử cung tổn thương rộng, tỷ lệ này giảm còn 20-40%. Trong thai kỳ, một số trường hợp người mẹ vẫn có thể đối mặt với nguy cơ sảy thai, chuyển dạ sớm, chảy máu bất thường hoặc nhau thai bám bất thường vào thành tử cung.
Chị Thu buồng tử cung dính nặng. Bác sĩ phẫu thuật nội soi cắt dính qua ngả âm đạo, tái tạo lại buồng tử cung, đồng thời bơm vào tử cung gel chống tái dính sau mổ. Tái khám sau phẫu thuật hồi tháng 1/2024, bác sĩ kiểm tra đánh giá tính toàn vẹn và thể tích của buồng tử cung đã trở về trạng thái bình thường, không có hiện tượng ứ dịch. Tuy nhiên do hai vòi trứng tắc, chị Thu vẫn cần làm thụ tinh ống nghiệm (IVF) để có con.
Chị được dùng thuốc kích trứng theo phác đồ cá thể hóa. Quá trình chọc hút, thụ tinh trong ống nghiệm thu được 7 phôi chất lượng tốt. Sau thời gian dùng thuốc chuẩn bị niêm mạc, bác sĩ chuyển 1 phôi vào buồng tử cung nhưng không thành công mang thai. Đến lần chuyển phôi thứ hai may mắn mới mỉm cười.
Thai kỳ của chị Thu gặp nhiều bất lợi. Suốt 12 tuần đầu, chị liên tục phải nhập viện giữ thai do ra máu bất thường. Tuần 24, người mẹ bị rối loạn dung nạp đường, được bác sĩ dinh dưỡng tư vấn chế độ ăn để điều chỉnh đường huyết mà không cần tiêm insulin. Tuần 33, bác sĩ phát hiện chị bị dư ối. Sau nhiều nỗ lực, chị thành công giữ thai an toàn đến tuần 38. Tháng 2/2025, gia đình hạnh phúc đón con gái đầu lòng nặng 3,1kg chào đời sau hơn 10 năm mong đợi.
Thep PGS Lê Hoàng, tử cung là cơ quan sinh sản quan trọng nhất của người phụ nữ, tuy nhiên cũng là bộ phận dễ bị tổn thương nhất. Thống kê cho thấy, khoảng 90% trường hợp nữ giới bị dính buồng tử cung sau can thiệp nạo hút thai, nạo hút nhau bị sót sau sảy thai, hoặc sau sinh, gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Một số bệnh lý phổ biến khác tại buồng tử cung như viêm lộ tuyến cổ tử cung, lạc nội mạc tử cung, ung thư cổ tử cung, ung thư thân tử cung, u xơ hay polyp tử cung, tụ dịch vết mổ… cũng gây khó mang thai, giữ thai.
Các bệnh lý phụ khoa kể trên thường có dấu hiệu ban đầu mờ nhạt, khó nhận biết. Bác sĩ khuyến cáo phụ nữ nên thăm khám phụ khoa định kỳ 6 tháng một lần để phát hiện và điều trị kịp thời, tránh bệnh diễn tiến nặng. Đặc biệt là nữ giới 6 tháng đến 1 năm không sử dụng biện pháp tránh thai mà không có thai, nên chủ động đi khám sớm.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH