Bàn chân đái tháo đường được xem là một trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của bệnh đái tháo đường, là vấn đề y tế nhức nhối, ảnh hưởng đến không chỉ xã hội, kinh tế trên toàn thế giới, mà còn tác động đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Người bệnh tiểu đường có nguy cơ mắc bàn chân đái tháo đường lên đến 25%, dẫn đến kết quả tất yếu là phải cắt cụt chi dưới (1). Vì vậy việc đánh giá, phân độ bàn chân đái tháo đường là tối cần thiết để có kế hoạch điều trị và theo dõi phù hợp.

Bàn chân đái tháo đường là bàn chân của người bệnh đái tháo đường có nguy cơ mắc các tổn thương bệnh lý như: loét, nhiễm khuẩn, sự phá hủy các mô sâu, gây ra những triệu chứng bất thường về thần kinh, các giai đoạn đầu của bệnh mạch máu ngoại vi và các biến chứng chuyển hóa của đái tháo đường xuống các chi dưới. (2)
Có 2 thang điểm được sử dụng để phân độ bàn chân đái tháo đường là thang điểm Wagner – Meggitt và thang điểm Pegis.
Hiện nay phân độ bàn chân đái tháo đường Warner – Meggitt là phân loại được sử dụng rộng rãi nhất giúp phân loại tổn thương bàn chân theo độ sâu với 6 mức độ nghiêm trọng. (3)
| Độ | Triệu chứng |
| 0 | Da còn nguyên vẹn, không có tổn thương hở hoặc tổn thương tiền loét, có thể bị biến dạng bàn chân hoặc viêm mô tế bào |
| 1 | Vết loét (loét 1 phần hoặc loét toàn bộ lớp da) |
| 2 | Vết loét sâu lan đến dây chằng, gân, bao khớp nhưng không có áp xe hoặc viêm tủy xương |
| 3 | Vết loét sâu với áp xe, viêm tủy xương hoặc nhiễm trùng khớp |
| 4 | Hoại tử khu trú ở ngón chân hoặc gót chân |
| 5 | Hoại tử lan rộng toàn bộ cẳng chân |
Thang điểm PEDIS là một hệ thống phân loại vết loét bàn chân đái tháo đường (DFU – Diabetic Foot Ulcer) được phát triển bởi Hiệp hội Bàn chân Quốc tế (International Working Group on the Diabetic Foot – IWGDF). PEDIS là viết tắt của các yếu tố chính:
| Giai đoạn | Tưới máu | Mức độ | Độ sâu | Nhiễm trùng | Cảm giác | Điểm |
| 1 | Không có triệu chứng của bệnh động mạch ngoại biên, kèm với 1 trong 4 dấu hiệu: sờ được mạch chày trước và chày sau, ABI 0,9 – 1,10, TBI > 0,6, TcPO2 > 60mmHg | Chưa tổn thương | Chưa tổn thương | Vết thương không có mủ và biểu hiện viêm | Không mất cảm giác bảo vệ ở bàn chân bị loét | 0 |
| 2 (nhẹ) | Có bệnh động mạch ngoại biên nhưng thiếu máu cục bộ không nghiêm trọng (CLI) kèm 1 trong 5 dấu hiệu sau: đi lại cách hồi (cần đánh giá không xâm nhập), ABI < 0,9 nhưng HA cổ chân > 50mmHg, TBI < 0,6 nhưng HA tâm thu ngón chân > 30mmHg, TcPO2 30 – 60mmHg. Bất thường khác khi thăm dò không xâm nhập phù hợp với bệnh động mạch ngoại biên | < 1cm2 | Vết loét nông trên bề mặt, chưa lan rộng xuống lớp bì | Sự hiện diện của ≥ 2 biểu hiện viêm (có mủ, vùng da đỏ, đau, nóng hoặc sưng cứng), nhưng bất kỳ viêm mô tế bào/ban da đỏ nào kéo dài ≤ 2cm quanh vết loét và nhiễm trùng chỉ giới hạn ở da hoặc bề mặt mô dưới da; không có biến chứng cục bộ hoặc bệnh toàn thân khác | Mất cảm giác bảo vệ ở bàn chân bị loét: ≥ ½ dấu hiệu sau: mất cảm giác áp lực (sợi đơn 10g) ở ⅔ vị trí gan bàn chân. Hoặc mất cảm giác rung âm thoa 128Hz hoặc ngưỡng cảm giác rung > 25V (kỹ thuật bán định lượng) ở xương bàn ngón cái | 1 |
| 3 (vừa) | Thiếu máu cục bộ chi nghiêm trọng: 1 trong 3 dấu hiệu sau: huyết áp tâm thu cổ chân < 50mmHg, huyết áp tâm thu ngón chân < 30mmHg, TcPO2 < 30mmHg | 1 – 3 cm2 | Loét sâu qua lớp bì, lan đến tổ chức dưới da (cân, cơ hay gân) | Nhiễm trùng (như trên) ở người bệnh ổn định mặt chuyển hóa và toàn thân nhưng có ≥ 1 đặc điểm sau: viêm mô tế bào > 2cm, sọc viêm bạch huyết, lan rộng bên dưới bề mặt da, áp xe mô sâu, hoại thư và liên quan đến cơ, gân, khớp hoặc xương | – | 2 |
| 4 (nặng) | – | > 3cm2 | Loét ảnh hưởng đến tất cả cấu trúc bàn chân: xương và/hoặc khớp (lộ xương hoặc chạm xương) | Nhiễm trùng ở người bệnh có nhiễm độc toàn thân hoặc mất ổn định chuyển hóa (sốt, ớn lạnh, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp, lú lẫn, nôn, tăng bạch cầu, nhiễm toan, tăng glucose máu nặng hoặc tăng urê máu | – | 3 |
Tổng điểm đánh giá sau khi phân loại càng lớn thì nguy cơ cắt cụt chi càng cao. Trường hợp PEDIS < 7, người bệnh có nguy cơ cắt cụt chi thấp. PEDIS từ 7 trở lên, người bệnh có nguy cơ cắt cụt chi cao.
Loét bàn chân do đái tháo đường là nguyên nhân nhập viện nhiều nhất, hơn bất kỳ biến chứng tiểu đường nào khác. Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến loét bàn chân đái tháo đường như: tăng đường huyết không kiểm soát, xuất hiện các vết chai, cấu trúc bàn chân biến dạng do chấn thương, bàn chân không được chăm sóc đúng cách, mang giày dép không vừa vặn, tổn thương thần kinh ngoại biên, biến chứng mạch máu, nhiễm khuẩn, khô da,… (4)
Loét bàn chân do đái tháo đường là biến chứng phổ biến với tỷ lệ mắc hàng năm vào khoảng 2% tổng số người bệnh đái tháo đường. Tỷ lệ tăng lên từ 5% – 7,5% với những người bệnh đã xuất hiện triệu chứng bệnh lý thần kinh ngoại biên. Khoảng 15% người bệnh đái tháo đường sẽ bị loét ít nhất 1 lần trong suốt cuộc đời và có đến 60% các ca cắt cụt chi là do vết loét bị nhiễm trùng. Người sở hữu bàn chân bẹt có nguy cơ mắc bàn chân đái tháo đường cao hơn bởi vì lực căng trên bàn chân không cân xứng, dễ dẫn đến viêm mô.
Tổn thương dây thần kinh ngoại biên xuất hiện ở khoảng 50% – 70% người bệnh đái tháo đường, tác động đến các sợi dây thần kinh điều khiển cảm giác, khả năng vận động và tự chủ. Các tổn thương này làm cho bàn chân bớt nhạy cảm với những kích thích thông thường, dễ mắc các chấn thương nhỏ và từ đó lở loét.
Trong khi đó, nếu người bệnh bị tổn thương dây thần kinh vận động sẽ dễ xuất hiện các biểu hiện như: teo cơ, yếu cơ và liệt nhẹ, từ đó làm biến dạng bàn chân, chai chân do xuất hiện những điểm tăng áp lực. Kết hợp với mức độ hoạt động nhiều dẫn đến rách, viêm tổ chức mô và cuối cùng không thể tránh khỏi lở loét chân.
Tổn thương dây thần kinh còn làm ảnh hưởng đến khả năng tự chủ, giảm tiết mồ hôi gây ra những thay đổi lớn trên da. Vùng da bàn chân bị vi khuẩn xâm nhập dễ nhiễm khuẩn, gây viêm loét. Do đề kháng yếu, các vết thương dù được chăm sóc kỹ càng vẫn thường chậm liền và có nguy cơ cắt cụt chi rất cao nếu không kiểm soát được hoại tử. Thậm chí sau khi điều trị khỏi, người bệnh vẫn cần áp dụng các biện pháp phòng bệnh vì khả năng tái phát lên đến 30% trong năm đầu tiên.

Người bị bàn chân đái tháo đường có thể xuất hiện 1 hoặc các dấu hiệu như: (5)

Sau khi thăm khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu, bác sĩ Nội tiết – Đái tháo đường sẽ lên phác đồ điều trị bệnh phù hợp tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của người bệnh, gồm các bước:
Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vết loét và hoại tử, bác sĩ có thể đề nghị người bệnh nên nhập viện hay không. Trường hợp viêm nhiễm nặng hoặc có tắc hẹp động mạch, việc cắt cụt chi là cần thiết để ngăn ngừa nhiễm trùng lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể.

Chủ động kiểm soát lượng đường trong máu sẽ giúp giảm thiểu rủi ro mắc các biến chứng do đái tháo đường gây ra. Ngoài ra, người bệnh có thể áp dụng các biện pháp sau để phòng tránh các biến chứng bàn chân đái tháo đường:
Bên cạnh đó, người bệnh cần lưu ý:
Người tiểu đường nên thường xuyên đến khám định kỳ với bác sĩ khoa Nội tiết – Đái tháo đường, BVĐK Tâm Anh TP.HCM hoặc Phòng khám Đa khoa Tâm Anh Quận 7 để được bác sĩ tư vấn, hỗ trợ và theo dõi, nhằm ngăn chặn những biến chứng nguy hiểm của tiểu đường.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Hy vọng bài viết trên đã cung cấp thêm thông tin cho độc giả về các phân độ bàn chân đái tháo đường. Đái tháo đường tuy không đe dọa trực tiếp đến tính mạng, nhưng âm thầm tàn phá sức khỏe và gây ra nhiều tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống người bệnh và cuối cùng cũng có thể ảnh hưởng đến tính mạng bởi các biến chứng cấp tính. Do đó, người bệnh nên khám sức khỏe thường xuyên để được theo dõi và điều trị phù hợp.