
Nhiều người cho rằng, sốt xuất huyết bắt đầu giảm sốt nghĩa là bệnh đang hồi phục. Tuy nhiên, đây có thể là thời điểm bước vào giai đoạn nguy hiểm của sốt xuất huyết với nguy cơ thoát huyết tương, xuất huyết nặng. Việc nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo trong giai đoạn này có vai trò quan trọng giúp người bệnh được theo dõi và xử trí kịp thời, hạn chế nguy cơ biến chứng nguy hiểm.

Sốt xuất huyết thường diễn tiến qua 3 giai đoạn gồm giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục. Trong đó, giai đoạn nguy hiểm thường rơi vào khoảng ngày 3 – 7 của bệnh, có thể xuất hiện khi người bệnh bắt đầu giảm sốt nên dễ gây chủ quan. Đây là giai đoạn bệnh sốt xuất huyết cần theo dõi sát vì nguy cơ thoát huyết tương, xuất huyết nặng, sốc hoặc tổn thương cơ quan có thể xảy ra nếu không được xử trí kịp thời.
Các dấu hiệu cảnh báo gồm:
Sau khi vượt qua giai đoạn nguy hiểm khoảng 48 – 72 giờ và không có biến chứng, người bệnh thường bước vào giai đoạn hồi phục sốt xuất huyết với tình trạng ăn uống, tiểu tiện và tuần hoàn dần cải thiện.

Giai đoạn nguy hiểm của sốt xuất huyết dễ gây biến chứng do tình trạng thoát huyết tương, rối loạn đông máu và giảm thể tích tuần hoàn có thể diễn tiến nhanh trong thời gian ngắn. Giai đoạn này thường xuất hiện từ ngày 3 – 7 của bệnh, nhiều trường hợp xảy ra đúng thời điểm người bệnh bắt đầu giảm sốt nên dễ nhầm là đang hồi phục.
Khi thành mạch tăng tính thấm, huyết tương thoát ra ngoài lòng mạch có thể làm máu cô đặc, giảm tưới máu cơ quan và gây sốc. Đồng thời, người bệnh có nguy cơ xuất huyết nặng, suy hô hấp, tổn thương gan, suy thận hoặc suy đa cơ quan nếu không được theo dõi và xử trí kịp thời.
Các dấu hiệu cảnh báo gồm đau bụng nhiều, nôn nhiều, lừ đừ, tay chân lạnh, chảy máu niêm mạc hoặc tiểu ít. Đây là giai đoạn cần được theo dõi sát để phát hiện sớm nguy cơ chuyển nặng và hạn chế biến chứng sốt xuất huyết nguy hiểm.
Trong giai đoạn nguy hiểm của sốt xuất huyết, người bệnh cần được theo dõi sát triệu chứng, chăm sóc đúng cách và phát hiện sớm các dấu hiệu chuyển nặng để hạn chế nguy cơ sốc, xuất huyết nặng hoặc suy đa cơ quan.
Người bệnh cần theo dõi nhiệt độ, tình trạng tỉnh táo, lượng nước tiểu, dấu hiệu xuất huyết và khả năng ăn uống trong suốt giai đoạn nguy hiểm. Trường hợp xuất hiện đau bụng nhiều, nôn nhiều, lừ đừ, tay chân lạnh, chảy máu hoặc tiểu ít cần đến cơ sở y tế ngay.
Người bệnh chỉ nên sử dụng thuốc hạ sốt theo hướng dẫn của bác sĩ. Paracetamol là thuốc thường được chỉ định để hạ sốt trong sốt xuất huyết. Không tự ý dùng aspirin, ibuprofen hoặc thuốc chống viêm giảm đau khác do có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết.

Người bệnh cần uống đủ nước để hạn chế tình trạng mất nước và hỗ trợ tuần hoàn. Có thể bổ sung nước lọc, oresol, nước trái cây hoặc nước canh theo khả năng dung nạp. Việc bù dịch cần phù hợp với tình trạng lâm sàng và hướng dẫn của bác sĩ để tránh quá tải dịch.
Người bệnh nên ưu tiên thức ăn mềm, dễ tiêu, chia nhỏ bữa ăn và duy trì chế độ dinh dưỡng đầy đủ nhằm hỗ trợ quá trình hồi phục. Trường hợp buồn nôn hoặc ăn uống kém cần theo dõi sát để hạn chế nguy cơ suy kiệt.
Người bệnh cần nghỉ ngơi đầy đủ, hạn chế hoạt động gắng sức trong giai đoạn bệnh tiến triển. Việc nghỉ ngơi hợp lý giúp giảm tiêu hao năng lượng và hỗ trợ cơ thể phục hồi tốt hơn.
Trong giai đoạn nguy hiểm của sốt xuất huyết, người bệnh cần nhập viện ngay khi xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo nặng để được theo dõi và xử trí kịp thời, hạn chế nguy cơ sốc, xuất huyết nặng hoặc suy đa cơ quan. Các dấu hiệu cần đến cơ sở y tế ngay gồm:

HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Như vậy, giai đoạn nguy hiểm của sốt xuất huyết thường xuất hiện khi người bệnh bắt đầu giảm sốt và có thể diễn tiến nhanh với nguy cơ thoát huyết tương, sốc, xuất huyết nặng hoặc suy đa cơ quan. Việc nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo như đau bụng nhiều, nôn nhiều, lừ đừ, tay chân lạnh hoặc chảy máu bất thường có vai trò quan trọng trong theo dõi và xử trí kịp thời. Người bệnh cần được thăm khám tại cơ sở y tế có chuyên khoa phù hợp, hệ thống xét nghiệm và khả năng theo dõi hồi sức để đánh giá đúng mức độ bệnh, xây dựng hướng điều trị phù hợp và hạn chế biến chứng nguy hiểm.