Nhiều năm kể từ khi đặt stent tái thông mạch máu tim, bà Tâm, 76 tuổi, khởi phát cơn đau ngực trở lại do bị tình trạng tái hẹp stent.

GS.TS.BS Võ Thành Nhân, Giám đốc Trung tâm Tim mạch Can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết, tái hẹp stent là một biến chứng sau đặt stent mạch vành, xảy ra khi lòng mạch bị thu hẹp trở lại sau một thời gian được mở rộng bằng stent. So với lần đặt stent đầu, quá trình điều trị cho bệnh nhân tái hẹp trong stent diễn ra phức tạp hơn. Bác sĩ phải nhờ sự hỗ trợ của các kỹ thuật hiện đại để đánh giá kỹ đoạn mạch trước và sau can thiệp, từ đó chọn stent kích thước chuẩn xác nhằm giảm nguy cơ tái hẹp nhiều lần.
Bà Tâm đau ngực vùng sau xương ức từ một tháng trước. Cơn đau khởi phát khi gắng sức, kéo dài 7-8 phút rồi hết, không khó thở. Bà đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM khám, được chụp CT mạch vành thì phát hiện hẹp trong stent 45-50% động mạch liên thất trước, 40-50% các nhánh còn lại. Đây là nguyên nhân khiến cơ tim thiếu máu nuôi, gây ra cơn đau ngực âm ỉ cho người bệnh với tần suất tăng dần.
Theo giáo sư Nhân, động mạch vành hẹp trên 50% có kèm triệu chứng thì cần xem xét can thiệp. Phim chụp CT mạch vành của bệnh nhân cho thấy mức độ hẹp không nghiêm trọng. Tuy nhiên, phương pháp này thực chất chỉ là một hình ảnh X-quang hai chiều của lòng mạch, do đó không cho phép đánh giá cấu trúc thành mạch, không xác định được chính xác mức độ tái hẹp. Để đưa ra quyết định có đặt stent cho người bệnh hay không, bác sĩ chỉ định chụp cắt lớp kết quang nội mạch (OCT).
OCT mạch vành hiện được coi là “tiêu chuẩn vàng” trong đánh giá hình thái tổn thương động mạch vành, vượt trội so với chụp mạch vành thông thường (chỉ thấy hình bóng lòng mạch). Kỹ thuật này dùng ánh sáng hồng ngoại để tái tạo hình ảnh chi tiết bên trong lòng động mạch vành với độ phân giải cực cao (10-20 micron, cao hơn nhiều so với siêu âm nội mạch – IVUS).
Nhờ OCT, bác sĩ có thể quan sát rõ ràng độ dày, thành phần và cấu trúc mảng xơ vữa; mức độ tái hẹp trong stent; đánh giá chính xác kích thước lòng mạch, giúp lựa chọn stent phù hợp; đồng thời kiểm tra ngay sau đặt stent để xem stent có áp sát thành mạch, có còn khoảng hở hay bị bóp méo không, nâng cao độ chính xác, an toàn và hiệu quả điều trị.

Kết quả OCT của bà Tâm ghi nhận nhánh liên thất trước tái hẹp 70-90% trong và sau stent, động mạch mũ tái hẹp 95-99% trong stent, động mạch vành phải tái hẹp 50%. “Như vậy, OCT đã phát hiện chính xác mức độ tổn thương mạch vành mà chụp CT thông thường đã bỏ lỡ”, giáo sư Nhân khẳng định, thêm rằng đây là cơ sở để ê kíp quyết định can thiệp mở rộng lòng mạch lần thứ hai cho bệnh nhân.
BS.CKII Nguyễn Văn Dương, Trung tâm Tim mạch Can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM cho hay, hình ảnh OCT cũng xác định nguyên nhân tái hẹp, đó là stent cũ có kích thước nhỏ hơn đường kính thực tế của mạch máu, khiến stent không thể mở rộng hết lòng mạch. Đồng thời, mảng xơ vữa đã phát triển mạnh mẽ cả bên trong lẫn phía ngoài stent. Nếu để một thời gian nữa, mạch máu nuôi tim ngày càng hẹp nặng, nguy cơ tắc hoàn toàn gây nhồi máu cơ tim là rất cao.
Các bác sĩ hội chẩn, nhận thấy hệ mạch máu tim của người bệnh hẹp nặng nhiều chỗ kèm xơ vữa, vôi hóa, nguy cơ không tái thông hoàn toàn sau can thiệp khá cao. Động mạch liên thất trước (mạch máu chính nuôi tim) lại nằm ngay sát cuống tim, rất khó đưa stent vào. Nếu thao tác luồn dây dẫn không chính xác có thể làm tổn thương tim, gây nguy hiểm cho bệnh nhân trong lúc can thiệp.
Phương án phẫu thuật bắc cầu được đưa ra, song bà Tâm lớn tuổi, gia đình không muốn mổ mở vì e ngại biến chứng. Cuối cùng, các bác sĩ thống nhất chọn phương pháp nong mạch đặt stent dưới sự hỗ trợ của kỹ thuật OCT.
Dựa trên hình ảnh OCT, ê kíp đo đạc chính xác đường kính tham chiếu của mạch máu và chiều dài sang thương để lựa chọn kích thước stent phù hợp. Thao tác luồn ống thông, đưa dụng cụ tiếp cận đoạn mạch hẹp cần khéo léo, chính xác tuyệt đối. Sau 30 phút, bác sĩ đặt được 2 stent kích thước 2.5×38 mm và 2.75×38 mm giúp bao phủ toàn bộ vùng tổn thương phía trong và sau 2 stent cũ.
Tiếp đó, kỹ thuật OCT được sử dụng để đánh giá và tối ưu hóa kết quả, đảm bảo stent nở tròn đều, áp sát hoàn toàn vào thành mạch. Bác sĩ cũng kiểm tra kỹ lưỡng các mép stent để loại trừ biến chứng như bóc tách có thể gây huyết khối cấp trong stent.
Ngay khi dòng chảy mạch vành được tái thông, bà Tâm cải thiện triệu chứng đau ngực. Bà có thể đi lại sau vài giờ nhờ bác sĩ luồn ống thông qua động mạch quay thay cho tĩnh mạch cổ tay. Hai ngày sau, bà xuất viện trong trạng thái khỏe mạnh.
Theo bác sĩ Dương, tái hẹp stent là một trong những thách thức lớn nhất sau can thiệp, chiếm khoảng 5-15% tổng số ca. Tái hẹp trong vòng 12 tháng sau đặt stent thường do chọn stent không đúng kích thước hoặc kỹ thuật đặt stent chưa tốt, stent không nở hết hoặc không áp sát thành mạch. Sau một năm, nếu bệnh nhân bị hẹp trở lại thì nguyên nhân lớn nhất là xơ vữa động mạch.
Để giảm thiểu nguy cơ tái hẹp mạch vành, người bệnh cần uống thuốc đúng chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là liệu pháp kháng tiểu cầu kép. Kiểm soát chặt chẽ các yếu tố nguy cơ: duy trì lối sống khoa học (ngưng thuốc lá, hạn chế rượu bia, tăng cường vận động), tuân thủ chế độ ăn tốt cho tim mạch và điều trị ổn định các bệnh nền.
*Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH