Gần 20 năm sau khi xạ trị ung thư cổ tử cung, chân trái bà Trân, 62 tuổi, sưng to gấp đôi chân phải khiến bà không thể đi lại như bình thường.

Bà Trân (ngụ Đồng Tháp) phẫu thuật điều trị ung thư cổ tử cung kết hợp xạ trị vào năm 2008. Đến năm 2021, chân trái bà có biểu hiện phù tăng dần, chẩn đoán phù bạch huyết. Hệ thống bạch huyết có nhiệm vụ thu thập chất lỏng, protein và chất độc dư thừa từ các tế bào và mô rồi đưa chúng vào máu.
Khi hệ thống bạch huyết không hoạt động tốt, cơ thể sẽ tích tụ chất lỏng dẫn tới sưng phù, khó chịu. Lúc đó, bà Trân được phẫu thuật ghép hạch bạch huyết và dẫn lưu, bệnh tình ổn định sau một tháng điều trị.
Tuy nhiên, đến giữa năm 2023, bệnh tái phát, chân trái bà Trân phù to rất nhanh, gây khó khăn cho bà trong sinh hoạt. “Tôi rất ngại di chuyển, suốt mấy tháng chỉ loanh quanh trong nhà. Cái chân đau nhức còn khiến tôi mất ngủ triền miên, cảm giác như chân đeo chì rất nặng nề”, bà chia sẻ.
Bà Trân đi khám nhiều nơi, điều trị nội khoa bảo tồn tích cực nhưng không hiệu quả. Tháng 4/2024, bà đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM.
TS.BS Nguyễn Anh Dũng, Trưởng khoa Ngoại Tim mạch – Lồng ngực, Trung tâm Tim mạch, cho biết sau thăm khám ban đầu, nghi ngờ bệnh nhân bị phù bạch huyết chân trái tái phát sau phẫu thuật và xạ trị vùng chậu gần 20 năm trước.
Bệnh nhân được siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới để đánh giá lưu lượng máu và xác định nguyên nhân gây phù. Kết quả không thấy huyết khối hệ tĩnh mạch chi dưới trên siêu âm, phù nề mô kẽ lan tỏa trong lớp dưới da vùng đùi và cẳng – bàn chân trái. Tiếp tục chụp MRI bạch huyết vùng chân ghi nhận phù bạch huyết mạn tính chân trái mức độ nặng, giai đoạn 3; phù bạch huyết mạn tính chân phải mức độ nhẹ, giai đoạn 1.

Ê kíp tiến hành phẫu thuật tái lập dẫn lưu dịch bạch huyết cho bệnh nhân bằng kỹ thuật siêu vi phẫu (supermicrosurgery) – phẫu thuật nối tĩnh mạch – mạch bạch huyết.
ThS.BS.CKI Phan Vũ Hồng Hải, khoa Ngoại Tim mạch – Lồng ngực, Trung tâm Tim mạch Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh chia sẻ, các phương pháp can thiệp ngoại khoa thường được áp dụng để phục hồi hệ bạch huyết là phẫu thuật nối tĩnh mạch bạch huyết, ghép hạch bạch huyết và phẫu thuật hút mỡ.
Đối với phẫu thuật ghép hạch bạch huyết, bác sĩ ghép các hạch tại nhiều cơ quan khác trong cơ thể vào một vị trí được chỉ định, nhờ đó thu nhỏ chi và giảm các đợt viêm mô tế bào. Tuy nhiên, tác dụng của phẫu thuật này chậm và có nguy cơ phát triển phù bạch huyết tại vị trí lấy mạch ghép. Như trường hợp bà Trân đã thực hiện phẫu thuật này vào năm 2021 và hiện tại bệnh tái phát trở lại.
Còn ở phương pháp hút mỡ, đây là một kỹ thuật xâm lấn, có thể làm hỏng các đường dẫn lưu bạch huyết còn sót lại, đòi hỏi bệnh nhân phải mang vớ tĩnh mạch hoặc băng ép chi cả ngày lẫn đêm trong thời gian dài sau mổ. Do đó, phương pháp này chỉ nên sử dụng với các chi có chức năng bạch huyết nội tại kém và hai chân có sự chênh lệch thể tích đáng kể.
Do vậy,đối với trường hợp này, kỹ thuật siêu vi phẫu (supermicrosurgery) nối tĩnh mạch – mạch bạch huyết (lymphovenous bypass) được ưu tiên lựa chọn nhờ ưu điểm và rủi ro thấp.
Trong ca mổ vi phẫu kéo dài 6 giờ, bác sĩ gây tê cho bệnh nhân, mở đường rạch dài 4 cm ngang qua đường đi tĩnh mạch và bạch mạch. Dưới sự hỗ trợ của kính hiển vi, ê kíp bóc tách bộc lộ bạch và tĩnh mạch kề bên, tiếp đến tạo các miệng nối bạch mạch – tĩnh mạch bằng chỉ vi phẫu 11/0 (kích thước chỉ khoảng 1/5 sợi tóc).
Bên cạnh đó, bệnh nhân được chụp ảnh bạch huyết bằng kỹ thuật sử dụng huỳnh quang Indocyanine Green (ICG) trong suốt cuộc mổ. Đây là kỹ thuật mới được thực hiện tại Bệnh viện Tâm Anh. Theo đó, bệnh nhân được tiêm thuốc nhuộm đánh dấu (ICG) vào mạch bạch huyết. Bác sĩ dễ dàng quan sát dòng chảy của bạch huyết dưới ánh sáng hồng ngoại, phát hiện được các đường bạch huyết bị tắc nghẽn, vị trí có thể tái lập đường bạch huyết và tối ưu hóa kết quả phẫu thuật.
Theo bác sĩ Dũng, phẫu thuật nối tĩnh mạch – mạch bạch huyết đòi hỏi kỹ thuật rất cao cùng các dụng cụ chuyên dụng như MRI khảo sát bạch huyết, kính hiển vi có độ phân giải cao, bộ dụng cụ vi phẫu và chụp bạch mạch huỳnh quang ICG. Phương pháp này đang được triển khai ở các trung tâm lớn, có các thiết bị máy móc hiện đại và đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm.
Sau mổ một ngày, chân trái bệnh nhân giảm phù 20%. Bà Trân được hướng dẫn tập vật lý trị liệu và băng ép chân ngay sau mổ, xuất viện sau 3 ngày.
Tái khám sau 10 ngày, chân trái bà thu nhỏ 50%, quan trọng hơn là chân bệnh nhân đã nhẹ hơn, tự đi lại dễ dàng. Bà được căn dặn mang vớ tĩnh mạch, tiếp tục trị liệu tích cực với các chuyên gia vật lý trị liệu và điều trị thuốc hỗ trợ nhằm giảm triệu chứng, ngăn ngừa tái phát.

Bác sĩ Hải thông tin, phù bạch huyết thứ phát phổ biến hơn phù bạch huyết nguyên phát (tình trạng di truyền hoặc bẩm sinh gây ra dị tật của hệ bạch huyết), với tỷ lệ mắc bệnh ước tính 1/1.000 so với 1/100.000. Nguyên nhân phổ biến gây phù bạch huyết thứ phát là ung thư (vú, phụ khoa, tiết niệu, u hắc tố, u lympho). Phương pháp điều trị ung thư (nạo hạch, xạ trị).
Nghiên cứu cho thấy cứ 5 phụ nữ sống sót sau ung thư vú thì có một người bị phù bạch huyết. Trong ung thư đầu và cổ, các biến chứng về mô bạch huyết và mô mềm có thể phát triển trong 18 tháng đầu sau điều trị, với hơn 90% bệnh nhân gặp phải một số dạng phù bạch huyết bên trong, bên ngoài hoặc kết hợp. 37% phụ nữ được điều trị ung thư phụ khoa bị phù bạch huyết trong vòng 12 tháng sau điều trị.
Phù chân là triệu chứng phổ biến nhất của phù bạch huyết. Triệu chứng phù chân có thể phát triển chậm, khiến bệnh nhân không thể nhận thấy tình trạng phù ở giai đoạn đầu của bệnh.
Nếu không được điều trị sớm hoặc điều trị không đúng cách, phù bạch huyết sẽ làm thay đổi màu sắc da, da ở chi bị bệnh dày lên, cứng lại gây ra tình trạng phù chân voi. Dịch bạch huyết chảy qua các vết nứt nhỏ trên da hoặc gây phồng rộp, có thể bị bội nhiễm gây viêm mô tế bào, loét chân lâu lành và viêm mạch bạch huyết (viêm bạch huyết). Huyết khối tĩnh mạch sâu (hình thành cục máu đông ở tĩnh mạch sâu hơn) cũng là biến chứng thường gặp gây suy giảm chức năng chi dưới.
Bên cạnh đó, những người bị phù bạch huyết mạn tính trong hơn 10 năm có 10% nguy cơ tiến triển bệnh ung thư hạch bạch huyết – một bệnh lý ác tính với nguy cơ đoạn chi rất cao.
Bác sĩ Dũng khuyến nghị, để giảm nguy cơ phù bạch huyết sau điều trị ung thư, bệnh nhân cần tái khám và tự theo dõi những thay đổi nhỏ trên chi, đặc biệt là các dấu hiệu ở giai đoạn sớm như cảm giác đau nhức, nặng nề, đơ cứng, giảm phạm vi chuyển động hoặc quần áo, đồ trang sức hoặc giày có thể cảm thấy chật hơn ở hoặc thay đổi màu sắc da, cứng và dày vùng da (xơ hóa) ở chi bị bệnh.
Tuân thủ lối sống lành mạnh: vận động thường xuyên, tránh đứng/ngồi một chỗ quá lâu, nâng cao tay/chân khi ngồi hoặc nằm, tránh nhiệt độ quá cao, không mặc quần áo bó sát.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH