Sau ca phẫu thuật kết hợp xương cánh tay, bà Hoa, 63 tuổi, bất ngờ gặp biến chứng thuyên tắc phổi gây suy hô hấp, suy tim, tụt huyết áp đe dọa tính mạng.

Mười ngày kể từ khi được các bác sĩ liên chuyên khoa Tim mạch – Hồi sức tích cực (ICU) điều trị chuyên sâu, bà Hoa đã ổn định sức khỏe, ăn uống ngon miệng, sinh hoạt cá nhân không cần người trợ giúp. Bà kể nửa tháng trước không cẩn thận nên té ngã trong nhà, cánh tay phải đập mạnh xuống sàn dẫn tới gãy xương, đầu gối trái bị dập. Sau khi sơ cứu tại bệnh viện tỉnh, bác sĩ chuyển bà đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh phẫu thuật gấp.
Ca mổ kết hợp xương cánh tay cho bà Hoa diễn ra thành công, hậu phẫu thuận lợi, bà hồi phục nhanh. Nhưng một ngày sau bà đột ngột khó thở, mệt, vã mồ hôi, nồng độ oxy trong máu (SpO2) và huyết áp tụt sâu. Xét nghiệm D-dimer tăng cao (chỉ số này càng cao càng gợi ý chẩn đoán thuyên tắc phổi). Bác sĩ cho bà chụp CT ngực, ghi nhận huyết khối lấp đầy hai nhánh động mạch phổi, cho thấy nghi ngờ thuyên tắc phổi là chính xác.
Ngày 4/3, ThS.BS Huỳnh Khiêm Huy, Trưởng khoa Hồi sức Ngoại Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết, thuyên tắc phổi là tình trạng động mạch phổi bị mảng huyết khối bít kín, chặn lưu lượng máu đến phổi để trao đổi khí, lấy oxy nuôi cơ thể và thải khí CO2. Lúc này, nồng độ oxy trong cơ thể giảm xuống một cách nguy hiểm, gây tổn thương tất cả các cơ quan đặc biệt là não, tim…
Ngoài ra, tắc nghẽn tại phổi làm tăng áp lực lên tim phải, gây suy tim cấp. Tim phải bị phình to và co bóp nặng nhọc hơn, thậm chí gây chèn ép tim trái làm giảm máu về tim trái. Hậu quả là tim trái không thể bơm đủ máu ra động mạch chủ, huyết áp cũng giảm xuống. Tất cả những tác động này có thể dẫn đến tử vong đột ngột hoặc sau khi thuyên tắc phổi đã xảy ra một thời gian ngắn mà không được chữa trị.
Thuyên tắc phổi là biến chứng thường gặp sau các ca phẫu thuật chỉnh hình lớn như gãy xương đùi, thay khớp háng, thay khớp gối, mổ cột sống… Nguyên nhân là người bệnh hạn chế vận động trong thời gian dài khiến máu di chuyển trong cơ thể chậm lại, hình thành các cục máu đông. Ngoài ra, quá trình phẫu thuật khó tránh khỏi tổn thương mạch máu và thời gian phẫu thuật lâu cũng làm tăng nguy cơ phát triển cục máu đông.
Trường hợp bà Hoa tuy phẫu thuật xương cánh tay là đơn giản. Nhưng khi ngã, đầu gối trái của bà bị va đập mạnh, sưng to kèm theo cơ địa thừa cân. Điều này khiến bà không thể vận động sớm sau mổ như lời khuyên của bác sĩ. “Đây có thể là những yếu tố nguy cơ thúc đẩy hình thành huyết khối dẫn tới thuyên tắc phổi, mặc dù bệnh nhân được áp dụng đầy đủ các biện pháp dự phòng thuyên tắc huyết khối sau mổ”, bác sĩ Huy nhận định.
Xác định bà Hoa rơi vào trạng thái suy hô hấp, suy tim, tụt huyết áp rất nguy kịch, có thể ngưng tim, ngưng thở bất cứ lúc nào, ê kíp chuyển bà lên khoa Hồi sức tích cực (ICU), dùng thuốc vận mạch liều cao để duy trì huyết áp, thở oxy, thở khí N.O giúp làm giãn động mạch phổi, hy vọng giảm được áp lực trong phổi và thất phải, cải thiện suy tim.
Đồng thời, bác sĩ sử dụng máy tuần hoàn tim phổi (ECMO) hỗ trợ. Khi tình trạng huyết động được kiểm soát, ê kíp hội chẩn tìm phương án xử lý cục máu đông. Bệnh nhân mới phẫu thuật, không thể dùng thuốc tiêu sợi huyết vì sẽ dẫn tới chảy máu khó cầm. Do đó, phương án hiệu quả nhất là can thiệp hút huyết khối.
Trong thời gian ngắn kể từ khi xuất hiện cơn thuyên tắc phổi cấp, bà Hoa được đưa lên phòng DSA. Bác sĩ hút phần lớn cục máu đông rải rác trong lòng động mạch phổi, tái thông con đường lưu thông máu từ tim phải lên phổi. Bệnh nhân thoát cơn nguy kịch, tiếp tục được điều trị tích cực bằng máy ECMO, thuốc trợ tim, vận mạch, thở khí N.O. Ba ngày sau bà cai được ECMO, năm ngày sau cai máy thở và N.O, chức năng tim dần hồi phục > 50%. Bà được chuyển ra phòng nội trú sau 7 ngày.

Theo bác sĩ Huy, thuyên tắc phổi và huyết khối tĩnh mạch sâu là nguyên nhân tim mạch phổ biến thứ ba gây tử vong, sau nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Ở những bệnh nhân nguy kịch nhưng không thể áp dụng phương pháp điều trị bằng tiêu sợi huyết, ba biện pháp được xem là “kiềng ba chân” trong điều trị thuyên tắc phổi là chạy máy ECMO, can thiệp hút huyết khối và khí N.O.
Ngoài ra, yếu tố thời gian cũng đóng vai trò quan trọng. Các bác sĩ liên chuyên khoa cần phối hợp chặt chẽ, hội chẩn nhanh để tìm phương án xử lý hiệu quả, không chỉ cứu bệnh nhân mà còn giảm tối đa biến chứng sau điều trị.
ThS.BS.CKII Huỳnh Thanh Kiều, Trưởng khoa Nội Tim mạch 1, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, chia sẻ khi về phòng nội trú, bà Hoa không còn khó thở, không ho, giảm mệt, hết suy hô hấp. Bác sĩ tiếp tục dùng kháng sinh trị viêm phổi, kháng đông ngừa huyết khối, kết hợp thay băng vết mổ và tập vật lý trị liệu, phục hồi chức năng. Ba ngày sau, bà khỏe nhiều và đủ điều kiện xuất viện.
Bác sĩ Kiều thông tin, các nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ thuyên tắc phổi gồm người trên 70 tuổi, mắc bệnh lý rối loạn đông máu di truyền, có bất thường mạch máu (như giãn tĩnh mạch, suy tĩnh mạch), ung thư, bệnh tim (như suy tim sung huyết, nhồi máu cơ tim…), mang thai hoặc trong vòng 6 tuần sau sinh, hút thuốc lá, béo phì, nằm bất động lâu ngày sau phẫu thuật hoặc chấn thương nặng, dùng viên thuốc tránh thai và các liệu pháp nội tiết tố, người có tiền sử huyết khối hoặc thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, người mắc hội chứng kháng phospholipid…
Để phòng ngừa thuyên tắc phổi, mỗi người nên duy trì cân nặng hợp lý, không hút thuốc lá, không mặc quần áo quá bó, kiểm soát tốt bệnh lý nền. Người bệnh nặng, ít vận động do mới trải qua ca mổ, sau chấn thương, nằm phòng ICU cần dùng thuốc phòng ngừa huyết khối nếu phải nằm một chỗ từ ba ngày trở lên. Khi xuất hiện các triệu chứng nghi thuyên tắc phổi như hồi hộp, khó thở, choáng váng, đau ngực, nhịp tim nhanh, tụt huyết áp, vã mồ hôi, ngất xỉu…, cần đến bệnh viện ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH