Bướu giáp âm thầm tiến triển trong nhiều năm, đến khi khó thở, ông Tình, 67 tuổi, đi khám phát hiện bướu đã thòng xuống trung thất, chèn ép khí quản.
ThS.BS.CKI Phan Vũ Hồng Hải, Trung tâm Ngoại Lồng ngực – Mạch máu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết, bướu giáp của bệnh nhân có kích thước 7,5x5x4 cm thòng vào trung thất trên, đẩy lệch khí quản sang trái, chèn ép các mạch máu và cơ quan xung quanh. Đây là nguyên nhân khiến ông Tình mệt mỏi, khó thở nhiều ngày. Bướu giáp chứa nhân, sinh thiết bằng kim nhỏ (FNA) đánh giá Tirads 4 (nghi ngờ ác tính).
Bướu giáp thòng là tình trạng bướu cổ (tuyến giáp) phát triển lớn lên, vượt qua vùng cổ và lan xuống trung thất (khoang ngực). Bệnh còn có tên gọi khác là bướu cổ thòng trung thất, bướu giáp sau xương ức, bướu giáp chìm, bướu giáp lạc chỗ trung thất, bướu giáp cổ – trung thất hoặc bướu giáp trong lồng ngực. Bệnh thường tiến triển âm thầm trong nhiều năm, người bệnh không biểu hiện triệu chứng cho đến khi bướu lớn dần gây áp lực lên vùng cổ, chèn ép thực quản, khí quản, mạch máu… có thể gây khó nuốt, khó thở, thay đổi giọng nói… Đôi lúc bướu giáp thòng được phát hiện tình cờ khi siêu âm, chụp X-quang ngực khi khám bệnh khác.
Trường hợp ông Tình, bướu đã hình thành từ lâu và âm thầm tiến triển, bắt đầu có dấu hiệu phá vỡ cấu trúc lân cận như khí quản, mạch máu lớn. Nếu không phẫu thuật lấy bướu sớm, bướu tiếp tục phát triển sẽ chèn ép đường thở, khiến người bệnh khó thở, thở rít, ho mạn tính, suy hô hấp cấp đe dọa tính mạng; chèn ép thực quản gây khó nuốt, nuốt nghẹn, ảnh hưởng ăn uống; chèn ép dây thần kinh thanh quản gây khàn tiếng hoặc liệt dây thanh âm… Ngoài ra, vẫn có tỷ lệ nhỏ bướu giáp thòng là ung thư, dù phần lớn là bệnh lành tính. Như ông Tình có nhân giáp phân loại Tirads 4, cần mổ sớm để xác định chính xác bản chất bướu, từ đó lên phương án điều trị phù hợp.

TS.BS Nguyễn Anh Dũng, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực – Mạch máu, Trung tâm Ngoại Lồng ngực – Mạch máu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, nhận định khối bướu quá lớn, nằm ngay trước động mạch chủ, dính chặt các mô và cơ quan xung quanh. Nếu không thể tiếp cận bướu từ đường mổ ở cổ như thông thường, bác sĩ phải chẻ xương ức, nguy cơ mất nhiều máu, nhiễm trùng cao hơn.
Bác sĩ mở đường mổ 6 cm ở cổ, cẩn thận bóc tách bướu để tránh làm thủng khí quản, rách các mạch máu lớn và tổn thương thực quản, thanh quản. Đồng thời, thùy phải tuyến giáp cũng được cắt bỏ. Sau hơn 3 giờ, ca mổ kết thúc mà không cần mở đường ngực. Kết quả giải phẫu bệnh sau đó xác định ung thư biểu mô tuyến giáp thể nang, chưa xâm nhập mạch máu, hạch bạch huyết hay cơ quan lân cận.
Ông Tình hồi phục nhanh, không gặp các biến chứng chảy máu, khó thở, nhiễm trùng, thay đổi giọng nói, tê tay chân, suy giáp,… sau mổ và xuất viện 3 ngày sau đó. Ông cần điều trị bổ sung bằng i ốt phóng xạ nhằm tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại.
Bướu giáp thòng chiếm tỷ lệ 5-15% các trường hợp bướu cổ. Thiếu i ốt là nguyên nhân phổ biến gây bệnh bướu cổ, do tuyến giáp cần i ốt để sản xuất hormone. Bên cạnh đó, các tình trạng bướu giáp đa nhân, bệnh tự miễn (như Hashimoto và Graves), u tuyến giáp, nang tuyến giáp, viêm tuyến giáp mạn tính, thay đổi hormone khi mang thai… cũng là yếu tố góp phần thúc đẩy hình thành bướu giáp thòng.
Để giảm nguy cơ mắc bệnh, mỗi người cần duy trì chế độ ăn đủ i ốt, hạn chế thực phẩm gây bướu giáp gồm rau họ cải (bắp cải, súp lơ, cải xoăn), đậu nành, đậu phộng (với người có nguy cơ cao hoặc đã có bướu giáp). Điều trị kịp thời và hiệu quả các bệnh tuyến giáp như cường giáp, suy giáp, viêm tuyến giáp. Khi được chẩn đoán u/nang giáp, nên can thiệp sớm để ngăn u tiến triển và di chuyển xuống ngực. Người có yếu tố nguy cơ nên kiểm tra sức khỏe định kỳ, siêu âm tuyến giáp nhằm phát hiện sớm bất thường, theo dõi chặt chẽ và can thiệp vào thời điểm phù hợp.
*Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH