Bé Tú, 6 tháng tuổi, ho nhiều, sốt liên tục 39 độ C, rút lõm lồng ngực, phải thở oxy do suy hô hấp sau nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV).

Thời điểm nhập viện, bé Anh Tú quấy khóc nhiều, bỏ ăn, khò khè, phổi có tiếng ran rít và ẩm hai bên, được thở khí dung, vệ sinh mũi họng, vỗ rung long đờm. Sau 1 ngày, bệnh tiến triển nặng, bé có biểu hiện khó thở tăng dần về đêm, nhịp thở nhanh 45-50 lần/phút, nồng độ oxy trong máu (SpO₂) giảm còn 92%, rút lõm lồng ngực rõ, phổi thông khí kém hơn, cảnh báo tình trạng suy hô hấp tiến triển.
Ngày 17/11, thạc sĩ, bác sĩ Thân Thị Thùy Linh, khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, giải thích khi xâm nhập đường hô hấp, RSV tấn công mạnh vào tế bào biểu mô tiểu phế quản, gây phù nề và tăng tiết dịch. “Trẻ nhỏ có đường thở hẹp, niêm mạc dễ phù, lại chưa biết khạc đờm nên rất dễ tắc nghẽn đường thở, dẫn đến khò khè, khó thở, thậm chí suy hô hấp”, bác sĩ Linh nói.
Bé Tú được chỉ định thở oxy mask 5 lít/phút và tích cực vỗ rung long đờm để hỗ trợ hô hấp. Các chỉ số sinh tồn và tình trạng sức khỏe gồm nhịp tim, nồng độ oxy trong máu, nhịp thở, mức độ khó thở, nhiệt độ cơ thể, tình trạng ăn uống, nước tiểu của bệnh nhi được giám sát liên tục để đảm bảo các chức năng sống duy trì trong giới hạn ổn định.
Sau 2 ngày nhập viện, tình trạng hô hấp của bé Tú cải thiện, cắt sốt, đỡ ho. Bé không quấy khóc, không còn thở nhanh hay rút lõm ngực, phổi thông khí tốt. Bé đồng thời được chăm sóc dinh dưỡng nâng cao thể trạng tăng khả năng hồi phục. Sau 4 ngày, sức khỏe của bé ổn định, được xuất viện.

Bác sĩ Thùy Linh cho biết virus hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm trùng hô hấp dưới ở trẻ nhỏ, đặc biệt ở nhóm dưới 2 tuổi. RSV lây chủ yếu qua các giọt bắn đường hô hấp và qua bàn tay hoặc bề mặt nhiễm dịch tiết hô hấp. Virus có thể tồn tại vài giờ trên bề mặt đồ vật và tồn tại thời gian ngắn hơn trên da; ở người suy giảm miễn dịch, thời gian đào thải virus có thể kéo dài hơn nhiều so với trẻ khỏe mạnh.
Ở giai đoạn đầu, các biểu hiện rất dễ nhầm với cảm lạnh thông thường như nghẹt mũi, chảy mũi, ho, đau họng, hắt hơi, sốt. Giai đoạn sau từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7, trẻ có thể xuất hiện khó thở, mệt mỏi, quấy khóc nhiều do đường thở của trẻ bị phù nề và tắc nghẽn đờm dãi. Trẻ dưới 12 tháng, đặc biệt là trẻ sinh non, trẻ có cơ địa dị ứng hoặc bệnh tim phổi bẩm sinh, có nguy cơ diễn tiến nặng cao hơn.
Lúc bệnh trở nặng, trẻ bắt đầu thở nhanh hơn bình thường. Trẻ dưới hai tháng tuổi hoặc sinh non có thể xuất hiện những cơn ngưng thở ngắn. Mỗi nhịp hít vào, ngực và bụng rút lõm mạnh, đặc biệt rõ ở vùng liên sườn và dưới sườn. Trẻ thở phập phồng cánh mũi, há miệng để thở, đôi khi phát ra tiếng rít hoặc khò khè do luồng khí đi qua đường thở bị thu hẹp. Nhiều trẻ ho dồn dập, khạc đờm khó khăn, khó thở sau cơn ho, môi và đầu chi tím tái vì thiếu oxy.
Biểu hiện toàn thân của trẻ cũng thay đổi rõ rệt. Trẻ nhỏ hoặc trẻ sinh non có thể xuất hiện cơn ngưng thở. Nhiều trẻ ho dữ dội, khó thở sau cơn ho; một số trường hợp tím tái khi thiếu oxy. Toàn trạng trẻ có thể thay đổi: bú kém, bỏ bú, mệt, ngủ nhiều, kích thích hoặc li bì.
Theo bác sĩ Linh, trẻ nhiễm RSV có nguy cơ cao bội nhiễm các tác nhân khác như phế cầu, HI, tụ cầu, cúm, Covid-19, sởi…. Sự kết hợp này khiến bệnh nặng lên nhanh, tăng nguy cơ biến chứng viêm phổi, viêm tiểu phế quản, suy hô hấp nặng cần thở oxy hoặc thở áp lực dương, xẹp phổi, tràn khí màng phổi, mất nước, rối loạn nhịp tim, ngừng thở, thậm chí tử vong. Mức độ nghiêm trọng tùy thuộc vào nhiều yếu tố như độ tuổi, bệnh nền, tiền sử nhiễm trùng. Một số trẻ có thể xuất hiện biểu hiện mất nước, ngưng thở, rối loạn nhịp thở. Sau nhiễm RSV, một số trẻ có thể khò khè tái diễn trong nhiều tháng.
Hầu hết trẻ đều có nguy cơ nhiễm RSV, thậm chí tái mắc vì miễn dịch sau nhiễm không bền vững. Thời điểm giao mùa, trời lạnh hoặc mùa mưa là điều kiện thuận lợi để RSV phát triển và lây lan. Với khí hậu nhiệt đới gió mùa như Việt Nam, virus có thể lưu hành quanh năm, khiến nguy cơ mắc bệnh luôn hiện hữu.
Cần chủ động phòng ngừa RSV bằng cách hạn chế để trẻ đến nơi đông người, tránh tiếp xúc với người đang ho hoặc sốt, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn chuyên dụng trước khi chăm trẻ. Thường xuyên vệ sinh không gian nơi trẻ sinh hoạt, chơi đùa, sát khuẩn các bề mặt tiếp xúc hằng ngày để giảm nguy cơ lây nhiễm.
Tránh hôn vào mặt, tay trẻ; chủng ngừa vaccine đầy đủ theo khuyến cáo, tiêm kháng thể đơn dòng phòng RSV cho nhóm trẻ nguy cơ cao (nếu có chỉ định). Khi trẻ có ho nhiều, khò khè, khó thở, thở nhanh, bỏ bú, sốt tím tái hoặc li bì, cần đưa đến bệnh viện ngay.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH