Trái tim nằm bên phải khiến hình ảnh mạch vành của ông Trọng, 68 tuổi, hiển thị đảo ngược hoàn toàn so với bình thường, buộc bác sĩ phải “đọc ngược” để đặt stent tái thông.
BS.CKII Nguyễn Văn Dương, Trung tâm Tim mạch Can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết, ông Trọng mắc hội chứng đảo ngược phủ tạng – một tình trạng di truyền ít gặp với tỷ lệ 1/10.000 người. Theo đó, các cơ quan chính trong lồng ngực và ổ bụng nằm đối xứng như hình ảnh trong gương, trong đó tim nằm bên phải thay vì bên trái.
Sự thay đổi cấu trúc giải phẫu khiến việc can thiệp mạch vành trở nên đặc biệt khó khăn. Hình ảnh trên màn hình hiển thị đảo ngược hoàn toàn: mạch vành trái chạy sang phải, mạch vành phải chạy sang trái; các góc chụp, vị trí xuất phát của mạch máu và hướng di chuyển của dụng cụ đều khác thường.
“Trong hơn 20 năm can thiệp tim mạch, tôi chỉ gặp vài trường hợp tương tự. Nếu đi dây theo thói quen thông thường rất dễ chọn sai hướng”, bác sĩ Dương nói. Theo đó, êkip phải đọc lại toàn bộ giải phẫu theo chiều ngược để đánh giá tổn thương, lựa chọn góc chụp và điều khiển dây dẫn.
Kết quả chụp mạch vành xác định bệnh nhân hẹp 80-90% động mạch liên thất trước, hẹp 90% nhánh trung gian (nhánh mở rộng của mạch vành trái). Toàn bộ hệ mạch vành vôi hóa nặng, nguy cơ cao nhồi máu cơ tim, ngưng tim.
Tuy nhiên theo bác sĩ Dương, mức độ hẹp mạch vành không phải là thách thức lớn nhất. “Điều khó nhất là toàn bộ hệ mạch vành của bệnh nhân đều nằm theo chiều ngược”, bác sĩ Dương nhấn mạnh.

Để xây dựng chiến lược can thiệp trên hệ mạch vành đảo ngược, êkíp tiến hành chụp cắt lớp kết quang nội mạch (OCT). Công nghệ này có độ phân giải rất cao, giúp đo độ dày mảng vôi, chiều dài đoạn hẹp và đường kính mạch máu, từ đó lựa chọn góc chụp, hướng đi của dây dẫn và loại stent phù hợp.
Sau khi tính toán lại toàn bộ góc chụp và hướng đi của dây dẫn, êkíp tiến hành nong bóng để ép sát mảng vôi hóa vào thành mạch, mở đường đặt lần lượt 2 stent vào nhánh liên thất trước và 1 stent vào nhánh trung gian. Sau can thiệp, kết quả chụp OCT cho thấy các đoạn mạch hẹp khít được nong tối ưu, không còn hẹp nghẽn gây thiếu máu cục bộ cơ tim. Stent nở tốt, áp sát thành mạch, giảm tối đa nguy cơ tái hẹp.
Ông Trọng mắc nhiều bệnh lý tim mạch và chuyển hóa như bệnh tim thiếu máu cục bộ, tăng huyết áp, đái tháo đường type 2, rối loạn lipid máu, uống thuốc nhiều năm nay. Trước nhập viện, ông đau ngực âm ỉ, tăng dần khi gắng sức, kèm mệt và khó thở.
Ba ngày sau can thiệp, ông Trọng hết đau ngực, khó thở, sức khỏe ổn định và xuất viện. Theo bác sĩ Dương, những trường hợp trái tim nằm bên phải rất ít gặp nên mỗi ca can thiệp đều cần xây dựng “bản đồ” mạch vành riêng trước khi đặt stent. Không thể áp dụng hoàn toàn kinh nghiệm thường quy đối với những trường hợp đặc biệt này.
Để giảm rủi ro tái phát bệnh mạch vành hoặc tái hẹp sau đặt stent, bác sĩ Dương khuyến cáo người bệnh cần tuân thủ điều trị nội khoa, đặc biệt là liệu pháp kháng tiểu cầu kép và kiểm soát chặt chẽ các yếu tố nguy cơ: duy trì lối sống lành mạnh (ngưng thuốc lá, hạn chế rượu bia, tăng cường vận động, tránh căng thẳng), tuân thủ chế độ ăn tốt cho tim mạch, điều trị ổn định các bệnh lý nền và tái khám đúng lịch hẹn.
* Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH