Phẫu thuật nội soi mũi xoang có hệ thống định vị AI giúp xâm lấn tối thiểu, rút ngắn thời gian phẫu thuật, giảm mất máu, người bệnh xuất viện sớm.

GS.TS.BS Trần Phan Chung Thủy, Giám đốc Trung tâm Tai Mũi Họng, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết thông tin trên từ kết quả so sánh giữa phẫu thuật nội soi mũi xoang có định vị AI và phẫu thuật nội soi thông thường, từ tháng 6 đến tháng 12/2025.
Theo đó, phẫu thuật nội soi mũi xoang ứng dụng hệ thống định vị tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI Neuro-Navigation Curve BrainLAB) có thời gian mổ trung bình 87,8 phút, lượng máu mất 22 ml, thời gian nằm viện sau mổ 2,1 ngày, không ghi nhận biến chứng, không tái phát và không có trường hợp nhập viện lại sau mổ. Trong khi đó, phẫu thuật nội soi mũi xoang thông thường, thời gian mổ trung bình khoảng 100 – 130 phút, lượng máu mất khoảng 50 – 150 ml, thời gian nằm viện 3 – 4 ngày.
GS Chung Thủy cho biết, trước đây, xác định vị trí trong phẫu thuật mũi xoang phụ thuộc vào kinh nghiệm, độ nhạy và phán đoán của phẫu thuật viên. Hiện nay, hệ thống định vị 3 chiều (Navigation) tích hợp AI giúp định vị vị trí dụng cụ trong phẫu trường, xác định chính xác cấu trúc cần can thiệp, lấy sạch bệnh tích, giảm tối đa nguy cơ biến chứng và tái phát. Điều này mang lại hiệu quả cao, giảm nguy cơ biến chứng cho nhóm người mắc phải các tình trạng nghiêm trọng như người viêm xoang tái phát có chỉ định mổ lại, cấu trúc giải phẫu bị mất hoặc người vốn có cấu trúc giải phẫu xoang phức tạp như ngách trán hẹp, nhiều tế bào quanh ngách trán, hở tự nhiên xương giấy, sàn sọ… Do xoang nằm cạnh các cấu trúc quan trọng như ổ mắt, sàn sọ, động mạch sàng trước, thần kinh thị giác…
Thống kê cũng ghi nhận các yếu tố như tuổi trung bình của người bệnh là 38,2 ở nam và 49,4 ở nữ; 33% ca tái phát (từng mổ nội soi không định vị 5-10 năm trước), 67% ca mổ lần đầu, viêm xoang tái phát, viêm xoang thay đổi cấu trúc giải phẫu như khuyết xương giấy, ăn mòn hốc mắt, hủy thành sau xoang trán…

Như trường hợp, anh Nam, 40 tuổi, viêm xoang tái phát “ăn mòn” xương sát ổ mắt. Hình ảnh chụp CT ghi nhận tổn thương choán chỗ lấp đầy xoang trán và xoang sàng trước bên trái, gây mòn thành ngoài xoang trán và xoang sàng. Cách đây 5 năm, anh từng mổ xoang do viêm xoang biến chứng u nhầy xâm lấn hốc mắt. Gần 1 năm nay, bệnh tái phát liên tục, hốc mắt sưng to, gây giảm thị lực.
GS Chung Thủy cho biết, người bệnh có khối tổn thương chèn ép vùng mỡ sâu trong ổ mắt, đẩy khối viêm sang phía ổ mắt, gây tắc lỗ thông xoang, điều trị nội khoa không đáp ứng, bệnh đã biến chứng. Bình thường mỡ ổ mắt nằm sâu trong hốc mắt và được lớp xương giấy (một trong những xương mỏng nhất cơ thể, dày chưa đến 1 mm) che phủ. Tuy nhiên, anh Nam viêm đa xoang kéo dài đã biến chứng lan tới hốc mắt, mô viêm ăn mòn xương, tạo thành lỗ thông giữa xoang và hốc mắt khiến mỡ ổ mắt bị “lộ ra” tự nhiên. Nếu không xử lý kịp có thể gây viêm mô tế bào ổ mắt, áp xe ổ mắt, ảnh hưởng thị lực. Trước cuộc mổ, hình ảnh CT của anh Nam được tải lên hệ thống định vị ba chiều (IGS), công nghệ AI đồng bộ dữ liệu giải phẫu, tái tạo hình ảnh 3D trên màn hình.
Quan sát đồng thời màn hình nội soi và hệ thống định vị, êkip mở rộng xoang trán hai bên, lấy sạch mô viêm phù nề, hút mủ đặc trong lòng xoang trán trái, lấy ra một khối mủ xanh vón cục dài 3 cm. Hậu phẫu, anh Nam giảm đau hốc mắt, thị lực không bị ảnh hưởng, sức khỏe ổn định, xuất viện sau một ngày.

Trường hợp khác, bà Thị, 70 tuổi, đau đầu dữ dội, lồi mắt hơn 1 năm, tưởng u não uống thuốc không cải thiện. Kết quả chụp MRI ghi nhận tổn thương lấp hoàn toàn xoang trán bên trái, lồi, mỏng vỏ xương thành sau trên xoang trán trái.
Người bệnh được chẩn đoán viêm đa xoang, u nhầy xoang trán trái, vị trí sát sàn sọ góc trên ngoài hốc mắt. U nhầy làm tăng áp lực trong xoang, khiến dây thần kinh xung quanh bị kích thích, gây đau đầu kéo dài. U đã ăn mòn xương trán sau – phần sát não nên cảm giác đau lan rộng lên trán và vùng đỉnh đầu. Hệ thần kinh vùng mũi xoang bị kích thích liên tục nên đau đầu dữ đội. Biến chứng viêm xoang, khối u chèn ép hốc mắt gây lồi mắt thời gian dài. Bà Thị còn có bất thường cấu trúc xoang dù chưa từng phẫu thuật trước đó, hẹp đường dẫn lưu xoang trán, xương trán bị canxi hóa. Việc tiếp cận u nhầy trong trường hợp này nguy hiểm vì vừa gần hốc mắt, sát sàn sọ, nguy cơ tổn thương mắt, chảy dịch não tủy rất cao.
Theo giáo sư Chung Thủy, nếu không sử dụng hệ thống định vị ứng dụng AI, khả năng cao phải mổ mở cho người bệnh mới có thể lấy được khối u. Khi mổ mở, dựa vào kinh nghiệm bác sĩ để xác định đường đi, xâm lấn hơn, thời gian hồi phục cho người bệnh dài hơn, rủi ro cũng cao hơn.
Bà Thị được chỉ định phẫu thuật nội soi mở xoang trán trái, lấy u nhầy bằng hệ thống định vị ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Kíp mổ tiếp cận u nhầy theo hướng nghiêng kết hợp camera nội soi hỗ trợ, gắp hết các mô viêm vùng tổn thương, giảm nguy cơ tái phát, bảo tồn cấu trúc lân cận. Hậu phẫu ba ngày, sức khỏe bà Liên ổn định, xuất viện. Tái khám sau một tháng, người bệnh không còn đau đầu, hết lồi mắt và nghẹt mũi.

Theo Hội TMH – Phẫu thuật đầu cổ Hoa Kì (AAO-HNS), các chỉ định nên dùng hệ thống định vị trong phẫu thuật xoang bao gồm: mổ lại; giải phẫu phức tạp hay bất thường; bệnh tích lan rộng; bệnh tích gần cấu trúc nguy cơ cao như ổ mắt, sàn sọ, thần kinh thị, động mạch cảnh trong; bệnh tích liên quan xoang trán, xoang sàng sau, xoang bướm. Trường hợp rò dịch não tủy hoặc có khiếm khuyết ở sàn sọ, u mũi xoang lành hoặc ác tính cũng cần dùng hệ thống định vị trong phẫu thuật.
GS Chung Thủy cho biết, với độ an toàn, hiệu quả và chính xác hơn, sắp tới, ngoài ứng dụng hệ thống định vị Navigation vào phẫu thuật nội soi mũi xoang các trường hợp viêm xoang tái phát, viêm xoang có cấu trúc giải phẫu phức tạp, Trung tâm mở rộng chỉ định cho các trường hợp u mũi xoang lành, ác tính và các bệnh lý phức tạp hơn.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH