
Nhận biết sớm những dấu hiệu đột quỵ (hay triệu chứng đột quỵ theo cách hiểu của nhiều người dân) giúp người bệnh kịp thời phát hiện “báo động đỏ”, từ đó chủ động ngăn chặn, sơ cứu nhanh hoặc cấp cứu kịp thời.

Người bị đột quỵ, đặc biệt là đột quỵ thiếu máu não nếu được cấp cứu sớm trong khoảng 3- 4,5 giờ sau khi phát hiện các dấu hiệu đầu tiên của đột quỵ, sẽ giảm được nguy cơ tử vong cũng như hạn chế tối đa các di chứng của thiếu máu não như yếu liệt.
Khuôn mặt bị mất cân đối, yếu liệt mặt, một bên mặt bị chảy xệ, cười méo mó. Có thể bảo bệnh nhân cười và quan sát.
Tìm hiểu thêm: Triệu chứng đột quỵ méo miệng cần lưu ý.
Đột ngột cử động khó khăn hoặc không thể cử động tay chân, yếu liệt một bên cơ thể. Hãy bảo bệnh nhân giơ tay lên và so sánh, nếu hai tay không thể nâng qua đầu cùng lúc thì có khả năng người đó bị đột quỵ.
Đột ngột nhức đầu dữ dội hay chóng mặt, bệnh nhân không yếu liệt chi nhưng không thể ngồi hay đi đứng được như người bình thường.
Tìm hiểu thêm: Dấu hiệu đau đầu đột quỵ cần lưu ý: Cách nhận biết và xử trí đúng.

Tình trạng đột ngột mất thị lực: Mờ mắt, nhìn không rõ,… có thể là dấu hiệu cảnh báo đột quỵ cần lưu ý.
Giọng nói bị thay đổi, nói ngọng, dính chữ. Có thể yêu cầu người đó nói những câu đơn giản, nếu không thể nhắc lại được thì người đó có dấu hiệu bị đột quỵ.

Quy tắc FAST là một trong những cách giúp nhận biết sớm các dấu hiệu đột quỵ một cách nhanh nhất và xử lý đúng.
Khuôn mặt bị mất cân đối, yếu liệt mặt, một bên mặt bị chảy xệ, cười méo mó. Có thể bảo bệnh nhân cười và quan sát.
Cử động khó khăn hoặc không thể cử động tay chân, yếu liệt một bên cơ thể. Hãy bảo bệnh nhân giơ tay lên và so sánh, nếu hai tay không thể nâng qua đầu cùng lúc thì có khả năng người đó bị đột quỵ.
Giọng nói bị thay đổi, nói ngọng, dính chữ. Có thể yêu cầu người đó nói những câu đơn giản, nếu không thể nhắc lại được thì người đó có dấu hiệu bị đột quỵ.
Khi một người có những triệu chứng trên thì rất có thể họ đã bị đột quỵ, vì vậy hãy gọi ngay cấp cứu (115) hoặc đưa bệnh nhân đến ngay cơ sở y tế gần nhất có khả năng điều trị bằng phương tiện phù hợp. Bệnh nhân được đưa đến bệnh viện càng sớm thì tổn thương càng ít, khả năng phục hồi càng cao, ngược lại đưa đến bệnh viện càng trễ thì càng có nhiều biến chứng nguy hiểm.
Tìm hiểu thêm: Sơ cứu đột quỵ tại nhà đúng cách, khoa học: Lưu ý khi xử lý.

Trên thế giới, mỗi năm có hơn 13 triệu người bị đột quỵ với con số tử vong lên đến 5,5 triệu người. Tại Hoa kỳ hằng năm có khoảng 795.000 người bị đột quỵ (trong đó 87 % là đột quỵ thiếu máu não) và 185.000 người bị tái phát hằng năm. Tại Việt Nam, số người bị đột quỵ hằng năm trên 200.000 người, có khoảng 100.000 người sống sót với các di chứng về thần kinh, vận động. (1)
Trên thực tế đã cho thấy bất cứ ai cũng có thể bị đột quỵ. Tuy nhiên, một số đối tượng có nguy cơ đột quỵ cao hơn bao gồm những yếu tố nguy cơ không thể thay đổi như nam giới, tuổi cao (trên 50 tuổi), thì còn có những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi như: (2)

Đột quỵ thường để lại nhiều biến chứng nguy hiểm. Tùy theo tình trạng đột quỵ do nguyên nhân thiếu máu não hay chảy máu não cũng như thời gian người bệnh được cấp cứu điều trị sau khi phát hiện mà biến chứng cũng sẽ khác nhau.
Các biến chứng đột quỵ hay di chứng đột quỵ phổ biến nhất có thể bao gồm: (4)
Bên cạnh các biến chứng đột quỵ trên, người bị đột quỵ còn có thể gặp các biến chứng khác như: Buồn nôn, nôn ói, mất thị lực, mất trí nhớ, các vấn đề về ruột và bàng quang,…

Mất bao lâu để xảy ra đột quỵ? Các dấu hiệu sắp đột quỵ có thể xuất hiện bất thình lình, trước thời điểm diễn ra đột quỵ chỉ vài phút; cũng có một số trường hợp các triệu chứng cảnh báo cơn đột quỵ sẽ diễn ra trước vài giờ.
Một vài bệnh nhân tối trước khi ngủ vẫn còn bình thường đến sáng thì đột ngột hôn mê hay yếu liệt tay chân nữa bên người. Do đó, có một số bệnh nhân khó có thể xác định chính xác thời điểm xảy ra đột quỵ.
Tuy nhiên, nếu một người trước đó hoàn toàn bình thường đột ngột có 5 dấu hiệu sớm của đột quỵ đã nêu bên trên thì không nên chủ quan mà phải đến cơ sở y tế để được kịp thời can thiệp.
Tìm hiểu thêm: Dấu hiệu trước khi đột quỵ cảnh báo nguy hiểm không thể bỏ qua.
Một triệu chứng đột quỵ vô cùng rõ rệt chính là tê bì chân tay một bên, có thể là bên trái hay bên phải, có thể không thể cử động được do yếu liệt khi người bệnh bị đột quỵ. Tình trạng tê có thể đi kèm với chuột rút, đau đớn.
Tìm hiểu thêm: Tê tay có phải dấu hiệu đột quỵ không? Cách nhận biết và xử trí.
Có! Chúng ta vẫn có nguy cơ bị đột quỵ giữa đêm, trong khi đang ngủ. Tình trạng này được gọi là đột quỵ khi thức dậy và chúng chiếm khoảng 14% trong tổng số các ca đột quỵ. Đột quỵ khi đang ngủ vô cùng nguy hiểm bởi lúc này, không thể phát hiện được những dấu hiệu đột quỵ để có thể sớm can thiệp trong “thời gian vàng”, làm tăng nguy cơ gặp các biến chứng nghiêm trọng và tử vong.

Có! Bạn có thể bị đột quỵ mà không biết. Các dấu hiệu bị đột quỵ có thể không được phát hiện nếu đây chỉ là cơn đột quỵ nhẹ, cơn đột quỵ thoáng qua khiến mô bị tổn thương nhẹ hoặc các mô bị tổn thương không phục vụ chức năng mà người bệnh có thể nhận biết như chức năng cao cấp: Tính toán, tình cảm, cảm xúc,… Chúng ta có thể phát hiện ra tình trạng đột quỵ này thông qua hình ảnh khi chụp CT hoặc MRI não. (5)
Ngoài ra, nếu các dấu hiệu đột quỵ nhẹ xuất hiện trong lúc bạn đang ngủ thì bạn cũng có thể không nhận ra chúng. Chẳng hạn như việc tê cứng nửa thân người khi đang ngủ thường bị hiểu lầm thành chuột rút hoặc “bóng đè” (một hiện tượng dân gian).
Điều nguy hiểm là sau cơn đột quỵ nhẹ mà bạn không thể nhận biết thì trong vòng vài giờ hay vài ngày sau (thường trong tuần lễ đầu tiên) thì bệnh tiến triển nặng dần có thể gây liệt nửa người không thể vận động hay rơi vào hôn mê. Do đó, người bệnh không nên chủ quan.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Càng sớm nhận ra dấu hiệu đột quỵ hay triệu chứng đột quỵ và điều trị kịp thời thì càng tăng tỷ lệ sống sót của người bệnh sau đột quỵ cũng như hạn chế được các biến chứng nặng. Nên chủ động ghi nhớ các dấu hiệu đột quỵ. Ngoài ra, nên xây dựng lối sống lành mạnh: Hạn chế rượu, không hút thuốc, hạn chế chất béo bão hoà, tăng cường bổ sung các dưỡng chất cần thiết, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao, kiểm tra sức khỏe định kỳ, điều trị các bệnh là yếu tố nguy cơ của đột quỵ như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch,… để phòng ngừa đột quỵ.