Vỡ gan là một trường hợp cấp cứu khẩn cấp, cần được xử lý lập tức để tránh biến chứng gây nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh. Vậy nguyên nhân và dấu hiệu, có sống được không, mức độ nguy hiểm như thế nào?

Vỡ gan là tình trạng mô gan bị rách do chấn thương hoặc bệnh lý, gây chảy máu trong ổ bụng, có thể xảy ra sau tai nạn (chấn thương bụng kín) hoặc do các bệnh lý như u gan, xơ gan, tiền sản giật, biểu hiện qua đau bụng, sốc, tụt huyết áp, cần điều trị khẩn cấp để cầm máu, có thể bằng phẫu thuật hoặc các kỹ thuật can thiệp tối thiểu.
Trong phần lớn các trường hợp, vỡ gan là do tác động mạnh của lực lên khoang bụng, da vẫn còn nguyên vẹn. Nguyên nhân thường là do tai nạn giao thông, tai nạn khi chơi thể thao, tai nạn lao động… Những môn thể thao như quyền anh, võ thuật cũng có thể gây chấn thương bụng, nguy hiểm cho gan. Ở trẻ em, vỡ gan có thể là hệ quả của tình trạng bạo lực. Vết thương thấu bụng do dao, đạn, vật nhọn đâm xuyên qua cũng có thể dẫn đến vết thương rách gan. Hiếm khi một thủ thuật y khoa như sinh thiết gan dẫn đến tụ máu gan, chảy máu gan. Một số bệnh lý về gan cũng có thể dẫn đến vỡ gan nếu gan đã bị tổn thương (ung thư gan lớn trên nền xơ gan). Một số ít trường hợp xảy ra không liên quan đến chấn thương, chẳng hạn như:

Vỡ gan có thể gây ra nhiều triệu chứng khác nhau:
Tình trạng vỡ gan có thể được chẩn đoán như sau:
Nếu người bệnh tỉnh táo, bác sĩ có thể bắt đầu bằng những câu hỏi về tình trạng hiện tại, chấn thương do bị tác động mạnh hay té ngã, thời gian xảy ra bao lâu, đau nhiều ở đâu, có đang mang thai, có đang dùng thuốc gì… Bác sĩ tiến hành quan sát vết thương bên ngoài, xem xét vết bầm tím. Sờ nắn, xem xét độ nhạy cảm ở một số vùng cơ thể như vùng bụng…
Xét nghiệm máu là xét nghiệm tiêu chuẩn, vỡ gan sẽ khiến số lượng bạch cầu tăng lên. Những chỉ số xét nghiệm chức năng gan có thể cung cấp thêm dấu hiệu tổn thương ở gan như alanine aminotransferase (ALT hoặc ALAT), aspartate aminotransferase (AST hoặc ASAT) tăng cao, nồng độ hồng cầu (hematocrit, hemoglobin, hồng cầu) giảm.
Bác sĩ cũng theo dõi các thông số sinh tồn như nhịp tim, huyết áp, nhịp thở, nhiệt độ cơ thể… giúp phát hiện sớm tình trạng sốc mất máu do xuất huyết nội nếu có.
Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh có thể được chỉ định nếu bác sĩ nghi ngờ tình trạng vỡ gan bao gồm: (2)
Trong trường hợp nghiêm trọng, người bệnh bị bắn hay dao đâm, có thể được đưa ngay đến phòng phẫu thuật.

Phân độ vỡ gan (AAST)
Vỡ gan là tình trạng nguy hiểm do máu có thể chảy vào khoang bụng, bác sĩ phải xử lý vết thương ngay lập tức, tiến hành cầm máu để tránh sốc mất máu (suy tuần hoàn), ngăn ngừa nguy cơ tử vong. Tiên lượng dựa theo mức độ tổn thương gan. Trường hợp chấn thương gan nặng có tỷ lệ tử vong cao. Nếu ống dẫn mật bị tổn thương, mật có thể tràn vào khoang bụng, gây viêm phúc mạc; mô cũng có thể bị hoại tử, hình thành áp xe.
Vỡ gan cần điều trị càng sớm càng tốt tại bệnh viện, các cơ sở y tế có chuyên khoa Tiêu hóa, gan – mật – tụy. Nếu có tình trạng xuất huyết bên trong, bác sĩ cần sớm phát hiện, đánh giá và cầm máu trong khoang bụng. Bác sĩ có thể chỉ định phương pháp điều trị bảo tồn hay can thiệp, phẫu thuật.
Người bệnh có thể phải truyền máu nếu tình trạng chảy máu nhiều do vỡ gan, diễn tiến nặng. Trường hợp cần phẫu thuật, bác sĩ sẽ đánh giá tổng quan mức độ tổn thương gan. Kiểm tra có hay không tổn thương ở những cơ quan khác. Trường hợp nhẹ, mô gan bị tổn thương được cắt bỏ, bác sĩ khâu các mạch máu bị tổn thương và nối lại mô gan nguyên vẹn bằng chỉ khâu.
Ở trường hợp vết rách gan lớn hơn, bác sĩ phẫu thuật tiến hành quấn gạc ép quanh gan, đồng thời kết hợp các kỹ thuật khác để cầm máu, ngăn máu chảy vào khoang bụng, ổn định gan. Trong thời gian này, người bệnh nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt, được bác sĩ theo dõi thường xuyên. Sau khoảng 2 ngày, gạc ép được tháo ra, bác sĩ tiến hành khâu vết thương ở gan. Người bệnh cần thời gian để phục hồi sau ca phẫu thuật và bước vào giai đoạn phục hồi chức năng.

Nếu điều trị bằng phương pháp phẫu thuật, người bệnh thường cần lưu lại bệnh viện để được bác sĩ theo dõi đến khi tình trạng sức khỏe ổn định. Khi xuất viện về nhà, người bệnh cần áp dụng chế độ sinh hoạt, ăn uống và tái khám theo chỉ định của bác sĩ.
Để phòng ngừa, cần duy trì lối sống lành mạnh, dinh dưỡng cân bằng, tập thể dục đều đặn, hạn chế tối đa rượu bia, thuốc lá, không lạm dụng thuốc, tiêm phòng vacxin viêm gan. Trong sinh hoạt, cần tuân thủ các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm virus, tránh dùng chung vật dụng cá nhân, quan hệ tình dục an toàn. Mỗi người nên duy trì lịch khám sức khỏe định kỳ, kiểm soát tốt các bệnh lý nguy cơ cao gây vỡ gan như viêm gan, xơ gan, u gan to, tiền sản giật… Ngoài ra, cần tuân thủ các quy tắc khi tham gia giao thông, dùng đồ bảo hộ để đề phòng tình trạng vỡ gan do tai nạn xe máy, xe đạp, xe điện…
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tóm lại, vỡ gan là tình trạng nguy hiểm, có thể đe dọa đến tính mạng của người bệnh. Người bị cần được bác sĩ tại cơ sở y tế uy tín xử trí, điều trị càng sớm càng tốt.