Sau gần 2 năm mong con không thành, chị Hòa, 35 tuổi, khám vô sinh kết quả khoang tử cung gần như biến mất do dính nặng sau 9 lần nạo hút thai.

Trước đó, chị Hòa từng nhiều lần chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn sớm, lần gần nhất khi thai 10 tuần. Từ sau lần can thiệp cuối cùng, chu kỳ kinh nguyệt thưa dần, lượng máu rất ít, có những thời điểm mất kinh kéo dài. Dù không sử dụng biện pháp tránh thai song chị không có con.
Tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội (IVF Tâm Anh) kết quả nội soi buồng tử cung cho thấy khoang tử cung của chị gần như mất hoàn toàn do dính, khiến phôi thai không thể làm tổ và phát triển.
Theo BS.CKI Lê Đức Thắng, dính buồng tử cung hay “hội chứng Asherman” xảy ra khi lớp nội mạc tử cung bị tổn thương nghiêm trọng, hình thành mô sẹo xơ làm cho các thành tử cung dính vào nhau. Nguyên nhân chính là các thủ thuật can thiệp vào buồng tử cung, đặc biệt là nạo hút thai hoặc can thiệp sau sảy thai. Nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ dính buồng tử cung tăng theo số lần can thiệp, với tỷ lệ khoảng 16% sau một lần nạo thai và khoảng 32% từ lần thứ 2 – 3 trở đi.
Một nghiên cứu lớn trên hơn 2.500 phụ nữ sau nạo hút thai cho thấy tỷ lệ hội chứng Asherman là khoảng 1,6%, nhưng trong nhóm có triệu chứng như rối loạn kinh nguyệt hay vô sinh thì nguy cơ cao hơn rõ rệt. Ngoài ra, phụ nữ có lịch sử ≥3 lần nạo hút thai có nguy cơ phát triển hội chứng này cao hơn khoảng 4,6 lần so với những người chỉ một lần can thiệp.
Với trường hợp của chị Hòa việc điều trị vô sinh được đánh giá là đặc biệt khó khăn do tiền sử 9 lần nạo hút thai khiến buồng tử cung bị dính gần như hoàn toàn. Sau khi nội soi xác định mức độ tổn thương, các bác sĩ lựa chọn phẫu thuật nội soi tách dính làm bước can thiệp đầu tiên, nhằm tái tạo tối đa khoang tử cung còn khả năng phục hồi.
Sau phẫu thuật, chị Hòa được theo dõi sát trong nhiều tháng và điều trị bổ trợ kéo dài để hỗ trợ tái tạo niêm mạc tử cung. Đồng thời, các biện pháp chống tái dính được áp dụng nhằm hạn chế nguy cơ khoang tử cung tiếp tục bị xơ hóa. Nội soi kiểm tra cho thấy buồng tử cung được mở lại một phần, song diện tích niêm mạc còn lại không đồng đều, khả năng mang thai tự nhiên được đánh giá rất thấp. Chị Hòa được tư vấn thụ tinh trong ống nghiệm để sớm hiện thực giấc mơ làm mẹ.

Trước khi chuyển phôi, người bệnh trải qua quá trình chuẩn bị nội mạc tử cung kỹ lưỡng, kéo dài hơn so với các trường hợp thông thường. Việc chuyển phôi chỉ được thực hiện khi nội mạc đạt ngưỡng an toàn để giảm nguy cơ thất bại và biến chứng thai kỳ.
Sau lần chuyển phôi đầu tiên, phôi thai làm tổ thành công. Do tiền sử tổn thương tử cung nặng, thai kỳ của chị được theo dõi chặt chẽ ngay từ sớm. Người bệnh được kiểm soát nguy cơ sảy thai, sinh non và các biến chứng liên quan đến bánh nhau trong suốt thai kỳ. Kết quả, em bé chào đời khỏe mạnh sau điều trị vô sinh do dính buồng tử cung mức độ nặng.
Triệu chứng lâm sàng của dính buồng tử cung thường gặp nhất là rối loạn kinh nguyệt như kinh ít hoặc vô kinh, đau bụng kinh, hoặc vô sinh. Trong một số nghiên cứu, khoảng 43% phụ nữ có dính buồng tử cung gặp khó khăn trong thụ thai, và rối loạn kinh nguyệt cũng là triệu chứng hay gặp.
Điều trị dính buồng tử cung, đặc biệt ở mức độ nặng, vẫn là thách thức lớn. Ngay cả khi phẫu thuật tách dính thành công, nguy cơ tái dính có thể tới 20–23%, đặc biệt trong các trường hợp nặng, đòi hỏi theo dõi và chăm sóc dài hạn.
Nhiều phụ nữ vẫn cho rằng đây là thủ thuật đơn giản, ít ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản, nhưng thực tế cho thấy tổn thương tích lũy theo thời gian có thể dẫn đến vô sinh, khiến hành trình làm mẹ trở nên gian nan và tốn kém về thời gian, chi phí và tâm lý.
Để phòng ngừa, bác sĩ Thắng khuyến cáo phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nên chủ động sử dụng các biện pháp tránh thai an toàn, hạn chế tối đa nạo hút thai. Trong trường hợp buộc phải can thiệp, cần lựa chọn cơ sở y tế có chuyên môn, đảm bảo vô khuẩn và kỹ thuật chuẩn, đồng thời tái khám đầy đủ sau thủ thuật để phát hiện sớm bất thường như kinh ít, thưa kinh hoặc đau bụng kéo dài. Nếu thấy khó mang thai trở lại sau 6–12 tháng, cần đi khám sớm để chẩn đoán nguyên nhân và xử trí kịp thời.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH