Bà Tình (55 tuổi, TP.HCM) bị mất ngủ, ù tai kéo dài cả tháng, khám phát hiện túi phình mạch máu não kích thước lớn, dọa vỡ nên được can thiệp kịp thời.

BSNT.CKI Dương Đình Hoàn, Trưởng đơn vị Can thiệp thần kinh, Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (cơ sở P.Tân Sơn Hòa – Q.Tân Bình cũ), cho biết kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não xác định bà Tình có một túi phình ở động mạch cảnh trong trái có kích thước 8.0×7.3mm, cổ túi rộng khoảng 6.4mm. Đánh giá đây là túi phình kích thước lớn, đặc biệt phần cổ rộng và có nguy cơ vỡ cao, có chỉ định can thiệp sớm bằng stent thay đổi dòng chảy.
Túi phình mạch máu não thường tiến triển âm thầm, ít triệu chứng rõ ràng nên người bệnh khó nhận biết. Nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi túi phình đã vỡ, gây xuất huyết não nguy hiểm. Tuy nhiên, bệnh lý này có thể được phát hiện sớm thông qua khám sức khỏe, tầm soát bằng chụp cộng hưởng từ (MRI). Dựa trên kích thước, hình dạng và vị trí túi phình, bác sĩ sẽ đánh giá nguy cơ vỡ để chỉ định can thiệp kịp thời hoặc theo dõi định kỳ.

Dưới sự hỗ trợ của hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền (DSA), bác sĩ Hoàn và êkíp theo dõi toàn bộ hệ thống mạch máu não của người bệnh trên màn hình theo thời gian thực. Kỹ thuật này cho phép bác sĩ bơm thuốc cản quang vào lòng mạch, đồng thời loại bỏ hình ảnh mô và xương xung quanh, giúp hiện rõ đường đi của mạch máu cũng như hình dạng, kích thước và cổ túi phình. Từ động mạch đùi, ống thông được đưa ngược dòng lên động mạch cảnh trong trái dưới sự kiểm soát chính xác của DSA, hạn chế tối đa xâm lấn và biến chứng.
Sau khi xác định đúng vị trí và cấu trúc túi phình, bác sĩ Hoàn tiến hành đặt stent thay đổi dòng chảy qua cổ túi phình. Khác với các phương pháp thả các cuộn kim loại (coils) làm đầy vào túi phình, stent này hoạt động như một khung lưới kim loại đặc biệt, giúp điều hướng lại dòng máu. Khi được triển khai, phần lớn dòng máu sẽ đi thẳng theo trục mạch chính, giảm mạnh lượng máu chảy xoáy vào trong túi phình. Dòng chảy chậm dần khiến máu trong túi phình hình thành cục huyết khối, từ đó túi phình xẹp lại và được “cô lập” khỏi tuần hoàn chung theo thời gian.
Bác sĩ Hoàn nhấn mạnh ưu điểm của phương pháp đặt stent thay đổi dòng chảy là bảo tồn được dòng máu nuôi não, không cần phẫu thuật mở sọ, đồng thời làm giảm nguy cơ vỡ túi phình về lâu dài. Với sự hỗ trợ của hệ thống DSA hiện đại và kinh nghiệm của êkíp, quá trình can thiệp diễn ra an toàn, giúp người bệnh tránh được biến chứng mổ mở. Bà Tình tỉnh táo, sinh hiệu ổn, được xuất viện sau 3 ngày nhập viện.
Theo bác sĩ Hoàn, người bệnh cần tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ dùng thuốc kháng kết tập tiểu cầu kép trong ít nhất 6 tháng. Đây là giai đoạn stent chưa được lớp nội mạc mạch máu bao phủ hoàn toàn, nguy cơ hình thành cục máu đông bám vào bề mặt stent vẫn còn. Việc dùng phối hợp thuốc kháng kết tập tiểu cầu giúp hạn chế hiện tượng huyết khối trong lòng stent, đảm bảo dòng máu lưu thông ổn định và an toàn cho não.
Sau mốc 6 tháng, khi stent đã dần hòa nhập với thành mạch và nguy cơ huyết khối giảm, bác sĩ sẽ đánh giá hình thái túi phình và tình trạng dòng chảy. Tùy đáp ứng điều trị, người bệnh có thể được cân nhắc chuyển sang duy trì thuốc kháng kết tập tiểu cầu đơn nhằm tiếp tục bảo vệ stent, đồng thời giảm nguy cơ tác dụng phụ do dùng thuốc kéo dài.
Việc tự ý ngưng hoặc dùng không đều thuốc kháng kết tập tiểu cầu sau đặt stent là rất nguy hiểm. Nếu thiếu thuốc, tiểu cầu có thể kết dính và hình thành huyết khối trong lòng stent, gây tắc mạch não cấp tính, dẫn đến đột quỵ. Do đó, người bệnh cần dùng thuốc đúng liều, đúng thời gian và tái khám theo lịch hẹn để bác sĩ đánh giá hiệu quả can thiệp cũng như điều chỉnh phác đồ điều trị phù hợp.
*Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH