Vượt qua những điểm mù trong tiếp cận truyền thống đối với ung thư vòm họng giai đoạn sớm không triệu chứng, hiện nay, có thể dự đoán nguy cơ bệnh ở giai đoạn rất sớm, trước chẩn đoán lâm sàng 6–12 tháng.
Thông tin được TTND.GS.TS.BS Trần Phan Chung Thủy, Giám đốc Trung tâm Tai Mũi Họng, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, kiêm Chủ tịch Hội Tai Mũi Họng Việt Nam, Chủ tịch Hội Ung thư Đầu Cổ Châu Á, báo cáo tại Đại hội Tai Mũi Họng – Phẫu thuật Đầu Cổ Thế giới lần thứ XXIII (IFOS 2026) tại Thổ Nhĩ Kỳ diễn ra 9-13/9.
GS Chung Thủy là 1 trong 3 đại diện của Việt Nam tham dự Đại hội Thế giới lần này với chủ đề báo cáo “Ung thư vòm họng (NPC) – Những thay đổi mang tính bước ngoặt trong điều trị chính xác. Cập nhật chẩn đoán tiên tiến, liệu pháp điều trị mới và bối cảnh lâm sàng tại Việt Nam”.

GS Chung Thủy cho biết, thực tế lâm sàng cho thấy khoảng 70–80% người bệnh được chẩn đoán ung thư vòm họng khi đã ở giai đoạn muộn (giai đoạn 3,4). Giai đoạn sớm, bệnh không có triệu chứng rõ ràng, khó nhận biết, dễ nhầm lẫn với bệnh mũi họng thông thường. Khi triệu chứng rõ ràng thì bệnh đã ở giai đoạn muộn, ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Ung thư vòm họng là một gánh nặng y tế tại Việt Nam nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung. Việt Nam ghi nhận 5.613 ca mắc mới mỗi năm, chiếm 3,1% tổng số ca ung thư và đứng thứ 9 về tỷ lệ mắc ung thư nói chung trên cả nước, theo GLOBOCAN 2022. Cơ chế bệnh sinh gồm 3 yếu tố tác động: nhiễm virus Epstein-Barr (EBV) – nguyên nhân hàng đầu (primary driver), yếu tố di truyền (tính nhạy cảm của cơ thể, liên quan đến allele HLA), yếu tố môi trường (phơi nhiễm chất gây ung thư như nitrosamine…).
GS Chung Thủy cho biết nghiên cứu phân tích biến thể gene SNP rs2856718 trên gene HLA-DQ, ở người nhiễm virus Epstein-Barr (EBV) – một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ung thư vòm họng. Kết quả cho thấy allele “G” và kiểu gene “GG” đóng vai trò bảo vệ, giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh so với nhóm không mang kiểu gene này. Việc xác định đặc điểm di truyền đặc trưng của người Việt như HLA-DQ rs2856718 là bước quan trọng để phân tầng nhóm nguy cơ cao trong quần thể nhiễm EBV. Từ đó, bác sĩ có thể xây dựng chiến lược tầm soát có định hướng, tập trung nguồn lực vào nhóm thực sự cần theo dõi sát thay vì tầm soát đại trà.
Theo GS Chung Thủy, những dấu ấn di truyền đó mở ra hướng tiếp cận mới trong chẩn đoán ung thư vòm họng. Trước đây, do triệu chứng giai đoạn sớm thường kín đáo, khó nhận biết, phát hiện muộn thì nay, việc kết hợp dấu ấn sinh học virus và di truyền (như xét nghiệm EBV DNA, HLA-DQ) cùng các phương pháp tầm soát hình ảnh sớm (nội soi dải tần ánh sáng hẹp NBI, I-Scan) ở Việt Nam cho phép bác sĩ dự đoán nguy cơ mắc bệnh ở giai đoạn rất sớm, trước thời điểm chẩn đoán lâm sàng thông thường 6-12 tháng. “Đây là bước chuyển mình quan trọng trong chẩn đoán bệnh không triệu chứng, vượt qua “điểm mù” trong tiếp cận truyền thống”, GS Chung Thủy nói.
Phác đồ điều trị phân theo giai đoạn bệnh. Ở giai đoạn sớm, xạ trị tiêu chuẩn hoặc phẫu thuật cắt vòm họng qua nội soi (ENPG) được ưu tiên nhằm bảo tồn chức năng cho người bệnh.
Hiện nay, sự cải tiến phẫu thuật cắt vòm họng qua nội soi có tiên lượng sống 92,1% ở người bệnh giai đoạn sớm, độ chính xác hơn 90% trường hợp đạt diện cắt âm tính, không còn tế bào u, bảo tồn chức năng nuốt, thính lực và vận động vùng cổ vượt trội; tránh được biến chứng hoại tử do xạ trị. Tuy nhiên, chỉ định phẫu thuật rất nghiêm ngặt, khi ở giai đoạn T1–T2, đòi hỏi hệ thống định vị hỗ trợ AI mức độ cao và trình độ phẫu thuật viên rất cao. Vì vậy, phương pháp này chưa phổ biến ở nhiều cơ sở y tế tuyến dưới.
Ở giai đoạn tiến xa, tái phát hoặc di căn, bác sĩ có thể chỉ định liệu pháp miễn dịch (thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch – ICIs) phối hợp hóa trị, hoặc liệu pháp nhắm trúng đích bằng kháng thể – thuốc liên hợp phối hợp kép.
“Điều trị ung thư vòm họng đang chuyển từ mô hình kinh nghiệm, đồng nhất (hóa – xạ trị liều cao tiêu chuẩn) sang mô hình chính xác, cá thể hóa, dựa trên dấu ấn sinh học và ưu tiên các can thiệp xâm lấn tối thiểu”, GS Chung Thủy nói.

GS Chung Thủy đánh giá, nhiều tiến bộ đang mở ra triển vọng mới cho bệnh nhân ung thư vòm họng ở Việt Nam từ chẩn đoán đến điều trị. Kỹ thuật phẫu thuật cắt vòm họng qua nội soi (ENPG) kết hợp hệ thống định vị IGS ứng dụng AI Navigation cũng mang lại khả năng bảo tồn chức năng cho người bệnh giai đoạn sớm mà trước đây khó đạt được.
Về lâu dài, mục tiêu của y học chính xác trong điều trị ung thư vòm họng tại Việt Nam là nâng cao tỷ lệ chẩn đoán sớm và khả năng bảo tồn chức năng, thông qua việc triển khai rộng rãi các xét nghiệm chẩn đoán phân tử và tích hợp liệu pháp miễn dịch bổ trợ (neoadjuvant) nhằm giảm liều xạ trị gây độc. Từ đó, giới chuyên môn kỳ vọng, từng bước chuyển ung thư vòm họng từ một bệnh nguy hiểm đến tính mạng thành một tình trạng có thể kiểm soát tốt.
Cũng tại Đại hội Thế giới này, GS.TS.BS. Trần Phan Chung Thuỷ đã được tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành (Executive Committee) của Liên đoàn Tai Mũi Họng Thế giới, giữ cương vị Đại diện Vùng Đông Nam Á – Châu Đại Dương (Regional Representative, South East Asia/Oceania) nhiệm kỳ 2026–2030. GS Chung Thủy là người đầu tiên của Việt Nam và Châu Á được bầu vào ban Chấp hành này.
Đại hội Tai Mũi Họng – Phẫu thuật Đầu Cổ Thế giới lần thứ XXIII năm nay với chủ đề Đổi mới, Trí tuệ Nhân tạo và Đa dạng Toàn cầu. Đây là một trong những kỳ hội nghị lớn nhất của chuyên ngành, với hàng ngàn đại biểu đến từ 130 quốc gia trên thế giới tham dự, được tổ chức bốn năm một lần.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH