Phẫu thuật ung thư cổ tử cung là một trong những phương pháp điều trị có thể được chỉ định tùy theo giai đoạn bệnh, kích thước khối u, mức độ lan rộng và tình trạng sức khỏe của người bệnh. Tùy từng trường hợp, bác sĩ có thể lựa chọn các kỹ thuật phẫu thuật khác nhau nhằm loại bỏ tổn thương và kiểm soát bệnh. Vậy ung thư cổ tử cung khi nào cần phẫu thuật, có những phương pháp nào, quy trình thực hiện ra sao và người bệnh cần lưu ý gì sau mổ? Bài viết dưới đây sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về vấn đề này.

Tùy thuộc vào các yếu tố như giai đoạn bệnh, kích thước khối u, độ xâm lấn và nguyện vọng sinh con của người bệnh, bác sĩ có thể chỉ định áp dụng phương pháp phẫu thuật chữa bệnh ung thư cổ tử cung phù hợp, có thể bao gồm (thông tin mang tính tham khảo): (1)
Đối với người bệnh ung thư cổ tử cung trẻ tuổi, phát hiện ở giai đoạn tiền ung thư hoặc ung thư giai đoạn rất sớm (IA1) có nhu cầu sinh sản, bác sĩ có thể chỉ định điều trị bằng các phương pháp phẫu thuật bảo tồn chức năng sinh sản như:
Khoét chóp cổ tử cung (Cone Biopsy) là phẫu thuật loại bỏ một đoạn mô hình nón chứa tổn thương xung quanh cổ tử cung thông qua ngả âm đạo. Đoạn mô này được gửi đi xét nghiệm giải phẫu bệnh; nếu diện cắt âm tính (sạch tế bào ác tính), phương pháp này vừa giúp chẩn đoán vừa là cách điều trị triệt căn, bảo tồn trọn vẹn tử cung để có thể mang thai sau này.

Phẫu thuật bằng phương pháp lạnh (Cryosurgery) sử dụng dụng cụ chuyên dụng áp khí hóa lỏng ở nhiệt độ cực âm (như nitơ lỏng) để làm đóng băng và tiêu diệt tại chỗ các tế bào bất thường. Phương pháp này nhẹ nhàng, ít gây chảy máu, tổn thương lành nhanh và thường chỉ định điều trị cho tổn thương tiền ung thư mức độ nhẹ đến trung bình.
Cắt bỏ cổ tử cung tận gốc (Radical Trachelectomy) được chỉ định cho người bệnh giai đoạn đầu (IA2 đến IB1) muốn giữ lại khả năng sinh sản. Bác sĩ cắt bỏ toàn bộ cổ tử cung, một phần âm đạo trên và mô xung quanh cổ tử cung, nhưng giữ lại thân tử cung, tai vòi và hai buồng trứng. Thân tử cung sau đó được khâu nối với âm đạo để chuẩn bị cho việc mang thai trong tương lai.
Cắt bằng vòng điện LEEP (Loop Electrosurgical Excision Procedure) sử dụng một vòng dây mảnh có dòng điện xoay chiều tần số cao để cắt bỏ lớp mỏng chứa tế bào bất thường ở bề mặt cổ tử cung. Dòng điện hỗ trợ cầm máu tức thì tại vị trí cắt, giảm nguy cơ nhiễm trùng và giúp mô phục hồi nhanh chóng.
Phẫu thuật không bảo tồn khả năng sinh sản có thể được bác sĩ chỉ định khi khối u tiến triển giai đoạn muộn hơn, kích thước lớn hoặc người bệnh đã sinh đủ con, bước vào độ tuổi tiền mãn kinh, có thể bao gồm:
Khi tế bào ung thư lan rộng hoặc để giảm nguy cơ tái phát do nội tiết, bác sĩ có thể chỉ định cắt bỏ hai ống dẫn trứng và hai buồng trứng (Salpingo-oophorectomy) phối hợp trong lúc cắt tử cung. Với phụ nữ chưa bước vào thời kỳ mãn kinh, việc này dẫn đến tình trạng mãn kinh do phẫu thuật (do sụt giảm estrogen đột ngột).
Phẫu thuật loại bỏ cơ quan vùng chậu (Pelvic Exenteration) là đại phẫu được chỉ định cho ung thư cổ tử cung tái phát tại vùng chậu sau khi đã xạ trị trước đó. Ngoài tử cung và âm đạo, bác sĩ thực hiện cắt bỏ bàng quang, trực tràng, một phần đại tràng hoặc các hạch bạch huyết lớn tùy hướng xâm lấn, đồng thời tạo hình lại đường tiểu và hậu môn nhân tạo.

Về thể chất, người bệnh thường đau vùng vết mổ hoặc âm đạo trong những tuần đầu. Do hệ thần kinh chi phối bàng quang và ruột nằm gần cổ tử cung có thể bị tác động nhẹ, hiện tượng tiểu khó hoặc táo bón tạm thời có thể xảy ra. Nếu có nạo vét hạch vùng chậu, người bệnh có nguy cơ bị phù bạch huyết (sưng phù nề một hoặc hai chân).
Về tâm lý, việc mất đi tử cung hoặc buồng trứng dễ gây ra cảm giác hụt hẫng, lo sợ mất đi bản sắc nữ tính hoặc khả năng sinh sản. Sự sụt giảm hormone đột ngột còn gây ra các cơn bốc hỏa, vã mồ hôi đêm, mất ngủ và thay đổi tâm trạng, việc chuẩn bị tâm lý trước giúp người bệnh phục hồi sức khỏe hiệu quả hơn. (2)
Chăm sóc hậu phẫu đúng cách giúp vết thương nhanh lành, giảm nguy cơ gặp biến chứng và giúp người bệnh sớm ổn định cuộc sống, có thể bao gồm:
Tái khám sau 4 – 6 tuần có vai trò quan trọng, qua đó bác sĩ có thể đánh giá độ lành thương của mỏm cắt âm đạo và chức năng bàng quang. Dựa trên kết quả giải phẫu bệnh chính thức, bác sĩ có thể đưa ra chỉ định kết thúc điều trị hay cần kết hợp hóa – xạ trị bổ trợ. Cần nhập viện ngay nếu sốt cao, dịch âm đạo có mùi hôi, chảy máu ồ ạt hoặc sưng phù đau chân.
Người bệnh cần ngủ đủ giấc từ 7 – 8 tiếng mỗi ngày và giữ tinh thần thoải mái. Trong chế độ ăn uống cần tăng cường bổ sung các thực phẩm giàu đạm (thịt nạc, cá, trứng), vitamin C, chất xơ… theo hướng dẫn của bác sĩ để thúc đẩy quá trình liền sẹo, tăng sức đề kháng và ngăn ngừa táo bón – yếu tố gây áp lực lên vết mổ.
Người bệnh nên đi lại nhẹ nhàng quanh phòng để kích thích nhu động ruột và ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu. Tuy nhiên, cần tuyệt đối tránh vận động mạnh như chạy bộ, tập gym, mang vác vật nặng (trên 5kg) hoặc leo cầu thang nhiều trong vòng 6 – 8 tuần sau mổ để tránh rách mũi khâu bên trong khoang chậu.
Nếu phải cắt bỏ hai buồng trứng khi chưa mãn kinh, người bệnh có thể được bác sĩ chỉ định liệu pháp hormon thay thế (HRT) để giảm các cơn bốc hỏa, bảo vệ xương khớp và tim mạch. Việc giải tỏa stress bằng các bài tập thiền, yoga nhẹ nhàng giúp xoa dịu tâm lý bất an trong giai đoạn này.
Người bệnh cần kiêng quan hệ tình dục ngả âm đạo tuyệt đối trong tối thiểu 6 – 8 tuần sau mổ để mỏm cắt âm đạo hoàn toàn lành lặn, tránh nguy cơ rách và nhiễm trùng. Khi bắt đầu quan hệ tình dục trở lại, nếu gặp tình trạng khô hoặc giảm chiều dài âm đạo, người bệnh có thể dùng gel bôi trơn gốc nước và cần sự chia sẻ của bạn đời.

HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tóm lại, phẫu thuật ung thư cổ tử cung là phương pháp điều trị ngoại khoa chuyên sâu. Để đạt hiệu quả điều trị tối ưu, người bệnh nên thực hiện phẫu thuật tại các cơ sở y tế uy tín, quy tụ đội ngũ bác sĩ và chuyên gia giàu kinh nghiệm, ứng dụng máy móc, thiết bị hiện đại, như tại Khoa Ngoại Ung bướu, Trung tâm Ung bướu, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh.