Viêm màng não mô cầu là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có thể khởi phát nhanh và diễn biến phức tạp, thậm chí gây tử vong chỉ trong 24 – 48 giờ khởi phát bệnh. Theo thống kê của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, tỷ lệ mắc bệnh bệnh ở Việt Nam lên đến khoảng 2,3/100.000 dân. Đây là một trong 6 căn bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ tử vong cao nhất nước, lên đến 0,03/100.000 dân.

Viêm màng não mô cầu hay viêm màng não do não mô cầu, là bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn não mô cầu Neisseria meningitidis gây ra, có thể đe dọa đến tính mạng nếu không phát hiện và điều trị kịp thời. Bệnh không chỉ gây viêm màng não mà có thể xâm nhập vào máu gây nhiễm khuẩn huyết, để lại di chứng nặng nề chỉ trong 24 – 48 giờ kể từ khi khởi phát triệu chứng. (1)
Vi khuẩn não mô cầu Neisseria meningitidis được phân loại thành các nhóm huyết thanh dựa trên cấu trúc của vỏ polysaccharide. Các nhóm huyết thanh A, B, C, W, X và Y chịu trách nhiệm cho hơn 95% trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu trên toàn thế giới.
Bệnh viêm màng não mô cầu có thể lây truyền từ người sang người thông qua giọt bắn, dịch tiết họng. Người mắc bệnh bệnh và những người mang mầm bệnh không triệu chứng ở vùng mũi họng đề có thể là nguồn lây nhiễm.
Ước tính có khoảng từ 10-20% dân số mang vi khuẩn não mô cầu tại hầu họng và không có triệu chứng lâm sàng (người lành mang trùng). Tỷ lệ này có thể tăng cao từ 40-50% trong các vụ dịch. (2)

Thuật ngữ viêm màng não mô cầu đề chỉ tình trạng nhiễm khuẩn do vi khuẩn Neisseria meningitidis, ảnh hưởng đến lớp màng não bao quanh não và tủy sống, nếu vi khuẩn xâm nhập vào sâu hơn lớp màng não và gây viêm cấu trúc não bên trong thì bệnh trở thành viêm não mô cầu. Trong đó bệnh viêm não mô cầu hiếm gặp hơn so với viêm màng não mô cầu.
Tác nhân gây viêm màng não mô cầu là vi khuẩn não mô cầu Neisseria meningitidis, thuộc nhóm vi khuẩn gram âm, thường cư trú ở vùng mũi họng và không gây ra triệu chứng. Khi chúng vượt qua hàng rào niêm mạc, đi vào máu hoặc dịch não tủy có thể gây bệnh não mô cầu xâm lấn, thường biểu hiện dưới dạng viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết hoặc đồng thời cả hai.
Dựa trên cấu trúc kháng nguyên polysaccharid của vỏ vi khuẩn, não mô cầu được phân loại thành nhiều nhóm huyết thanh, bao gồm 6 nhóm chủ yếu là A, B, C, W, X và Y. Tỷ lệ lưu hành từng nhóm khác nhau, tùy thuộc khu vực địa lý, thời điểm và đặc điểm dân số. Tại Việt Nam đã ghi nhận các nhóm A, B, C, W.
Bệnh thường lây truyền từ người sang người, chủ yếu qua dịch tiết đường hô hấp và hầu họng khi tiếp xúc gần hoặc kéo dài. Nguồn lây có thể từ người đang mắc bệnh hoặc người mang vi khuẩn tại vùng mũi họng nhưng chưa có triệu chứng. Thời kỳ ủ bệnh trung bình khoảng 4 ngày (2-10 ngày).
Các hình thức tiếp xúc có thể lây truyền vi khuẩn não mô cầu như:
Một số yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc viêm màng não do não mô cầu như: (3)
Các dấu hiệu, triệu chứng viêm màng não do não mô cầu phổ biến nhất bao gồm:

Trường hợp không phát hiện bệnh sớm, vi khuẩn não mô cầu xâm nhập vào máu có thể gây nhiễm trùng máu, thậm chí biến chứng nguy hiểm đến các cơ quan, chức năng trong cơ thể. Các dấu hiệu nhận biết bệnh diễn tiến nặng như:
Viêm màng não mô cầu đối với trẻ sơ sinh và trẻ em, các triệu chứng có thể không điển hình. Nếu có, các triệu chứng có thể mờ nhạt, khó nhận biết. Cha mẹ nên theo dõi các triệu chứng ở trẻ em để cấp cứu và điều trị kịp thời:
Có. Viêm màng não do não mô cầu là bệnh nhiễm trùng nguy hiểm, có thể đe dọa trực tiếp tính mạng. Ngay cả khi được điều trị bằng kháng sinh, vẫn có khoảng 10-15% người mắc bệnh não mô cầu tử vong. Khoảng ⅕ người sống sót có thể gặp di chứng lâu dài như suy giảm thính lực, tổn thương não, tổn thương thần kinh, suy giảm chức năng thận, cắt cụt chi.
Tại Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Y tế, tỷ lệ người mắc bệnh do não mô cầu có xu hướng tăng mạnh và diễn biến phức tạp. Trong đó, từ tuần 1 đến tuần 14 năm 2026, cả nước ghi nhận 24 trường hợp mắc bệnh do não mô cầu, bao gồm 4 trường hợp tử vong. Riêng khu vực miền Nam (tính đến ngày 17/10/2026), cơ quan y tế ghi nhận 42 ca mắc và 7 trường hợp tử vong do não mô cầu. (4)
Các dấu hiệu khởi phát viêm màng não mô cầu thường không điển hình, dễ nhầm lẫn với các triệu chứng bệnh đường hô hấp thông thường như đau đầu, sốt, đau họng, mệt mỏi, khiến nhiều trường hợp chẩn đoán chậm. Để chẩn đoán, bác sĩ sẽ khai thác bệnh sử chi tiết và chỉ định xét nghiệm cần thiết:
Bác sĩ sẽ khai thác diễn tiến bệnh, tiền sử tiếp xúc với người mắc, đồng thời đánh giá các dấu hiệu gợi ý viêm màng não hoặc nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu: Các triệu chứng thường gặp như sốt, đau đầu dữ dội, cứng gáy, buồn nôn, nôn, sợ ánh sáng, rối loạn ý thức, ban xuất huyết, có thể không mất màu khi căng da, gợi ý nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu.
Các triệu chứng có thể không xuất hiện đầy đủ. Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có thể khiến trẻ bú kém, quấy khóc, thóp phồng. Ngoài ra, các dấu hiệu viêm màng não ở người lớn có thể khác nhau tùy độ tuổi và tình trạng bệnh.
Để đánh giá chính xác người bệnh có mắc viêm màng não mô cầu hay không và nhóm huyết thanh do não mô cầu, bác sĩ có thể chỉ định chọc dò não tủy để xét nghiệm dịch não tủy và xét nghiệm máu:
Viêm màng não có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân. Để xác định người bệnh viêm màng não do não mô cầu hay các tác nhân khác, bác sĩ sẽ dựa trên đặc điểm khởi phát, triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm máu, dịch não tủy và các xét nghiệm vi sinh. Các triệu chứng lâm sàng có thể chồng lấp và cần được xác nhận bằng các xét nghiệm phù hợp.
Một số tác nhân gây viêm màng não cần chẩn đoán phân biệt như viêm màng não do virus, viêm màng não do lao, viêm màng não do nấm, viêm màng não do haemophilus influenzae (Hib),…
Ngoài ra, để chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác có thể gây sốt, đau đầu hoặc rối loạn ý thức như viêm não, xuất huyết dưới nhện, nhiễm trùng toàn thân, bác sĩ có thể chỉ định chụp CT hoặc MRI sọ não nhằm đánh giá tổn thương và các thăm dò khác theo chỉ định của bác sĩ.
Bệnh viêm màng não mô cầu có thể gây tử vong nhanh chóng, cần cấp cứu khẩn cấp. Ngay khi nghi ngờ mắc bệnh và đã lấy mẫu máu xét nghiệm và chọc dịch não tủy để cấy vi khuẩn, người bệnh cần được điều trị thích hợp. Nếu trì hoãn chọc dò não tủy vì bất kỳ lý do nào như chụp chiếu hình ảnh vùng đầu trước khi chọc dò tủy sống, người bệnh cần được ưu tiên điều trị sớm bằng kháng sinh sau khi lấy mẫu máu để cấy vi khuẩn.
Để phòng bệnh viêm màng não do não mô cầu cần:

Tiêm vaccine là biện pháp quan trọng giúp phòng ngừa bệnh viêm màng não mô cầu xâm lấn, giảm nguy cơ mắc bệnh do các nhóm huyết thanh có trong vaccine. Hiện nay, tại Việt Nam có các vaccine phòng não mô cầu thuộc hai nhóm chính: vaccine phòng não mô cầu các nhóm huyết thanh A, C, W, Y (MenACWY) và vaccine phòng não mô cầu nhóm B (MenB). Ngoài ra, vaccine VA-Mengoc-BC phòng não mô cầu các nhóm B và C.
Để tăng cường khả năng bảo vệ trước 5 nhóm huyết thanh A, B, C, W và Y, người tiêm cần được tư vấn lựa chọn các vaccine phù hợp, bởi không có một loại vaccine đơn lẻ nào trong các loại nêu trên phòng được cả 5 nhóm này.
| Tên vaccine | VA-Mengoc-BC (CuBa) | Nimenrix (Bỉ) | Bexsero (Ý) | MenQuadfi (Mỹ) |
| Khả năng phòng bệnh | Phòng các bệnh do não mô cầu nhóm B, C gây ra. | Phòng các bệnh do não mô cầu nhóm A, C, Y, W-135 gây ra. | Phòng các bệnh do não mô cầu nhóm B gây ra. | Phòng các bệnh do não mô cầu nhóm A, C, Y, W-135 gây ra. |
| Đối tượng | Chỉ định tiêm cho trẻ từ 6 tháng tuổi đến người lớn 45 tuổi. | Chỉ định tiêm cho trẻ từ 6 tuần tuổi trở lên và người lớn (không giới hạn tuổi trên). | Chỉ định tiêm cho trẻ từ 2 tháng tuổi đến người lớn 50 tuổi (chưa đến sinh nhật 51 tuổi). | Chỉ định tiêm cho trẻ từ 6 tuần tuổi trở lên và người lớn (không giới hạn độ tuổi trên). |
| Lịch tiêm | Tiêm 2 mũi cách nhau ít nhất 45 ngày. | Trẻ từ 6 tuần tuổi đến dưới 6 tháng tuổi:
Trẻ từ tròn 6 tháng tuổi đến dưới 12 tháng tuổi:
Trẻ từ tròn 1 tuổi trở lên:
|
Trẻ từ 2 tháng đến dưới 6 tháng tuổi:
Trẻ từ 6 tháng đến dưới 12 tháng tuổi:
Trẻ từ tròn 1 tuổi đến dưới 2 tuổi:
Trẻ từ tròn 2 tuổi đến người lớn 50 tuổi:
|
Trẻ từ 6 tuần tuổi đến dưới 6 tháng:
Trẻ từ 6 tháng đến dưới 12 tháng:
Trẻ từ 12 tháng trở lên và người lớn:
|
Đối với trẻ nhỏ, để phòng bệnh, cha mẹ nên chú ý:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Qua những chia sẻ trên, hy vọng các bậc phụ huynh đã hiểu rõ hơn về mức độ nguy hiểm của viêm màng não mô cầu, đặc biệt ở trẻ em. Việc tiêm chủng đầy đủ các mũi vacxin theo khuyến cáo của Bộ Y tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hỗ trợ sức đề kháng, tăng cường hệ miễn dịch và bảo vệ sức khỏe cho trẻ. Không những thế, trẻ em là đối tượng dễ mắc bệnh, do đó, khi trẻ có các dấu hiệu bệnh, hãy đưa trẻ đến bệnh viện để được kiểm tra và điều trị sớm.