Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra sự nguy hiểm của virus cúm B, đáng chú ý các đối tượng như trẻ em, người lớn tuổi, người có bệnh nền, thai phụ nhiễm virus cúm B có khả năng diễn tiến nặng và thậm chí ảnh hưởng lên thai nhi. Cúm loại B rất dễ lây lan và có thể gây ra các triệu chứng giống cúm A hoặc cảm lạnh thông thường. Bài viết sẽ giúp bạn hiểu hơn về chủng virus cúm B, từ nguồn gốc, cấu tạo đến cơ chế lây lan, triệu chứng và cách phòng ngừa.
Bài viết được tham vấn y khoa bởi BS.CKI Nguyễn Tiến Đạo – Quản lý Y khoa vùng 4 – Hồ Chí Minh, Hệ thống Trung tâm tiêm chủng VNVC.

Virus cúm B, thuộc nhóm Orthomyxoviridae, là 1 trong 3 loại virus cúm chính gây bệnh cúm ở người, hai loại còn lại là virus cúm A và C. Virus cúm B rất dễ lây lan từ người này sang người khác, người mắc virus cúm B có thể tự khỏi sau vài ngày nhưng một số trường hợp, đặc biệt là nhóm đối tượng nguy cơ như người già, trẻ nhỏ, thai phụ, những người có bệnh nền và người chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh cúm có thể tiến triển nặng. Các biến chứng nghiêm trọng của nhiễm virus cúm B là viêm phổi, viêm phế quản, suy hô hấp, suy thận, viêm cơ tim, viêm não…
Tìm hiểu thêm: Virus cúm là gì? Đặc điểm cấu tạo và các chủng phổ biến hiện nay.
Nguồn gốc của virus cúm B không rõ ràng, virus cúm B lần đầu tiên được các nhà khoa học phân biệt với các chủng cúm khác vào khoảng năm 1940. Sau đó, vào năm 1983, các nhà nghiên cứu đã theo dõi và xác định chủng cúm B cụ thể bao gồm dòng B/Yamagata và dòng B/Victoria. (1)
Khi soi dưới kính hiển vi điện tử, cấu tạo của virus cúm B có dạng hình cầu với đường kính khoảng 100 nm hoặc dạng sợi với chiều dài hơn 300 nm. (2)
Capsid (vỏ bên ngoài được cấu tạo bởi lớp màng lipid kép, lót ở bên trong 1 mốt lớp ma trận protein M1 )) là lớp vỏ của virus cúm B giúp nó được bao bọc. Trong khi đó, virion (hạt) của virus cúm B được đính các gai glycoprotein HA và NA, nhô ra từ màng lipid có nguồn gốc từ tế bào chủ. Lớp vỏ và bốn protein màng tích hợp HA, NA, NB và MB2 của nó phủ lên ma trận protein M1, bao quanh lõi virion.
Bên trong ma trận Protein M1, các nhà nghiên cứu tìm thấy protein phi cấu trúc 2 (NS2) và phức hợp ribonucleoprotein, bao gồm các đoạn RNA của virus được bao phủ bởi nucleoprotein và RNA polymerase phụ thuộc RNA dị loại (gồm 2 tiểu đơn vị “polymerase cơ bản” và 1 tiểu đơn vị “polymerase axit” (PB1, PB2 và PA)).
Hơn 500 hình chiếu mặt của virus cúm B được làm bằng kháng nguyên ngưng kết hồng cầu hemagglutinin (H) và kháng nguyên trung hòa neuraminidase (N). Trong đó, kháng nguyên H giúp cho virus bám vào niêm mạc đường hô hấp, từ đó xâm nhập vào trong tế bào. Kháng nguyên N làm loãng các chất nhầy ở đường hô hấp, giúp virus dễ tiếp xúc tế bào niêm mạc và xâm nhập tế bào hơn. (3)

Các nhà khoa học đã khám phá một số đặc điểm của virus cúm B như sau:
Theo các chuyên gia, virus cúm B lây lan chủ yếu do các giọt bắn khi người nhiễm bệnh ho, hắt hơi hoặc nói chuyện. Những giọt bắn này có thể tiếp xúc với miệng, mũi của người ở gần người bị nhiễm bệnh hoặc có thể hít vào trong phổi. Theo CDC Hoa Kỳ, virus cúm B có thể lây nhiễm cho người khác ở khoảng cách tối đa 1,8m.
Nghiên cứu của Benjamin J. Cowling và cộng sự năm 2014 xác nhận con đường lây truyền virus cúm B thông qua con đường aerosol. Aerosol có thể được hiểu là khí ô nhiễm hoặc khí chứa các hạt bụi sản sinh trong tự nhiên hoặc những giọt nước bắn ra khi con người hắt hơi hoặc ho. Nghiên cứu xác nhận có khoảng 37% và 26% trường hợp lây truyền virus cúm B trong các hộ gia đình là qua con đường aerosol.
Các triệu chứng khi bị nhiễm virus cúm B có thể được phân loại thành triệu chứng hô hấp, cơ thể và tiêu hóa. Cụ thể như sau:

Khi nào người có triệu chứng cúm cần đến ngay cơ sở y tế?
Câu trả lời là CÓ. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, virus cúm B có khả năng gây bệnh nặng và tử vong. Trong mùa cúm năm 2010-2011, cúm B là nguyên nhân gây ra 35% số ca tử vong ở trẻ em (4). Tương tự, nghiên cứu của Canada từ năm 2004 đến 2012 cho thấy tỷ lệ tử vong do cúm B cao đáng kể ở trẻ em dưới 16 tuổi. Hơn nữa, bệnh nhân HIV nhiễm virus cúm B có nguy cơ nhập viện cao hơn so với virus cúm A. (5)
Bệnh cúm do virus cúm B nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể gây các biến chứng bao gồm viêm phổi, nhiễm trùng tai, nhiễm trùng xoang và làm cho tình trạng bệnh mãn tính (suy tim sung huyết, hen suyễn hoặc tiểu đường) trở nên trầm trọng hơn.
Tìm hiểu thêm: Cúm B có nguy hiểm không? Ảnh hưởng đến sức khỏe ra sao?
Theo CDC Hoa Kỳ, cách đơn giản và tốt nhất để giảm nguy cơ mắc bệnh cúm do virus cúm B và các biến chứng nghiêm trọng của bệnh là tiêm vắc xin cúm hàng năm. Bé từ 6 tháng tuổi trở lên đã có thể tiêm vắc xin cúm. Sau khi hoàn thành phác đồ tiêm chủng cơ bản, trẻ em và người lớn cần tiêm nhắc lại hàng năm để phòng bệnh cúm.
Ngoài tiêm phòng, mọi người nên xây dựng thói quen vệ sinh cá nhân tốt, duy trì lối sống lành mạnh và cập nhật thông tin về diễn biến của bệnh cúm. Bằng cách hợp tác cùng nhau và chủ động trong nỗ lực ngăn chặn sự lây lan của cúm loại B, chúng ta có thể giảm tác động của bệnh đối với sức khỏe cộng đồng và tạo ra một tương lai an toàn hơn, khỏe mạnh hơn cho tất cả mọi người.
Hiện nay, có 4 loại vắc xin giúp phòng bệnh cúm do virus cúm A và cúm B bao gồm:
Xem thêm video: “Tiêm vắc xin phòng viêm phổi và cúm với những biến chứng hô hấp đặc biệt nguy hiểm!”
Ngoài tiêm chủng, CDC Hoa Kỳ cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của các biện pháp phòng ngừa bệnh cúm khác bao gồm:
Virus cúm B được cho là lây lan chủ yếu qua các giọt bắn khi người bị cúm ho, hắt hơi hoặc nói chuyện. Do đó, nếu bạn là người bị cúm, hãy che mũi và miệng bằng khăn giấy khi ho, hắt hơi. Nếu bạn tiếp xúc gần với người bị cúm, bạn hãy đeo khẩu trang để bảo vệ bản thân và người khác. Khẩu trang cũng có thể bảo vệ người bị bệnh cúm khỏi việc hít phải các mầm bệnh truyền nhiễm khác từ những người xung quanh.
Rửa tay thường xuyên sẽ giúp bảo vệ bạn khỏi vi trùng. Nếu bạn không có xà phòng và nước, hãy sử dụng cồn rửa tay.
Bộ Y tế hướng dẫn quy trình rửa tay thường quy như sau:
Nếu bạn là người bị bệnh cúm, hãy giữ khoảng cách tối thiểu là 2m với người khác để bảo vệ họ khỏi bị bệnh. Khoảng cách vật lý giữa bạn và người khác có thể giúp giảm nguy cơ lây lan virus cúm B.
Khi nhận thấy bản thân hoặc người thân trong gia đình có triệu chứng của cúm, hãy nghỉ làm (hoặc làm việc tại nhà nếu công ty cho phép), cho trẻ nghỉ học, cách ly để ngăn ngừa bệnh lây nhiễm cho người khác. Thông thường, bạn có thể trở lại các hoạt động hàng ngày của mình trong ít nhất 24 giờ khi:
Sau khi đáp ứng được hai tiêu chí này, bạn có thể thực hiện một số biện pháp phòng ngừa bổ sung để bảo vệ người khác khỏi bệnh về đường hô hấp.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Mặc dù virus cúm B ít phổ biến hơn virus cúm A, nhưng vẫn có nguy cơ gây bệnh đáng kể, đặc biệt ở trẻ nhỏ, người già và những người có bệnh lý tiềm ẩn. Virus cúm B thường có mặt quanh năm ở các nước nhiệt đới như Việt Nam. Do đó, chủ động phòng bệnh là điều cần thiết. Tiêm vắc xin cúm hàng năm được nhiều chuyên gia và tổ chức y tế lớn trên thế giới khẳng định là biện pháp phòng ngừa tốt nhất bệnh cúm loại B và các biến chứng của nó.