Cụ bà 86 tuổi đau tức ngực do động mạch vành hẹp tắc, được bác sĩ sử dụng kỹ thuật phá mảng vôi hóa bằng sóng xung kích, ngăn nguy cơ nhồi máu cơ tim.
Vài tháng gần đây, bà Năm (86 tuổi, Hà Nội) thường xuyên mệt mỏi, thỉnh thoảng tức ngực. Các cơn đau có xu hướng xuất hiện dày hơn và tăng dần về tần suất. Bà có tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường type 2 và từng đặt hai stent động mạch vành phải năm 2019 tại một bệnh viện khác.
ThS.BS Dương Công Lĩnh, khoa Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội chẩn đoán bà Năm bị cơn đau thắt ngực không ổn định trên nền bệnh mạch vành nhiều nhánh. Kết quả chụp CT cho thấy dù hai stent cũ vẫn thông tốt, nhánh động mạch liên thất trước (LAD) hẹp nặng 80-90% ở nhiều đoạn. LAD là nhánh chính nuôi phần lớn thành trước và vách liên thất của tim. Khi lòng mạch hẹp đáng kể, lưu lượng máu đến cơ tim giảm, đặc biệt trong lúc gắng sức hoặc căng thẳng, khiến cơ tim rơi vào tình trạng thiếu oxy và gây ra các cơn đau thắt ngực.
Nếu không can thiệp tái thông kịp thời, mảng xơ vữa tại vị trí hẹp có thể tiến triển hoặc nứt vỡ, hình thành cục máu đông làm tắc hoàn toàn mạch và dẫn đến nhồi máu cơ tim.
Theo bác sĩ Lĩnh, thách thức lớn nhất là đoạn động mạch hẹp khít kèm mảng vôi hóa dày, cứng bao quanh thành mạch trên phim chụp MSCT đa dãy. Mạch máu bình thường giống như một ống cao su mềm song khi bị vôi hóa, thành mạch trở nên cứng như “ống nhựa”. Tổn thương dạng này khiến bóng nong thông thường khó giãn nở tối ưu, stent khó áp sát thành mạch, làm tăng nguy cơ tái hẹp hoặc biến chứng.
Trước đây với những ca phức tạp, lựa chọn thường là phẫu thuật bắc cầu động mạch vành, đây là phương pháp hiệu quả nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt ở người cao tuổi hoặc có bệnh nền như tăng huyết áp, đái tháo đường, suy thận.
Hiện tại, giải pháp tối ưu nhất được lựa chọn là công nghệ IVL (Intravascular Lithotripsy) – kỹ thuật xử lý mảng vôi hóa trong lòng động mạch vành bằng sóng xung kích. Có thể hiểu IVL giống như “làm mềm nền bê tông” trước khi đặt khung đỡ, giúp stent sau đó có thể nở tối đa và áp sát tốt. Bóng IVL chuyên dụng được đưa tới vị trí hẹp, phát ra các xung cơ học năng lượng cao tác động trực tiếp vào mảng vôi hóa. Các xung này làm nứt vỡ canxi bề mặt và cả lớp canxi nằm sâu dưới nội mạc, giúp thành mạch trở nên mềm và dễ giãn nở hơn, trong khi mô mềm xung quanh ít bị ảnh hưởng.

Sau đó, êkíp tiếp tục đặt hai stent phủ thuốc tại các đoạn hẹp của động mạch liên thất trước, tái lập dòng máu nuôi cơ tim. Toàn bộ quá trình được theo dõi bằng chụp cắt lớp quang học trong lòng mạch (OCT), cho phép đánh giá chính xác mức độ nứt vỡ canxi và độ áp sát của stent.
Sau can thiệp, bà Năm không còn đau ngực, khó thở, sức khỏe hồi phục ổn định. Sau khi xuất viện, người bệnh được hẹn tái khám định kỳ để bác sĩ tiếp tục theo dõi, điều trị nội khoa kiểm soát huyết áp, đường huyết và dùng thuốc kháng kết tập tiểu cầu nhằm phòng ngừa tái hẹp stent.
Bác sĩ Lĩnh cho biết, trên thế giới, kỹ thuật IVL đã được ứng dụng ngày càng rộng rãi tại nhiều trung tâm tim mạch lớn ở Mỹ và châu Âu trong những năm gần đây. Các nghiên cứu ghi nhận phương pháp này giúp nâng cao tỷ lệ thành công khi đặt stent ở tổn thương vôi hóa nặng, đồng thời đảm bảo tính an toàn, xâm lấn tối thiểu. Tại Việt Nam, IVL mới được triển khai trong thời gian gần đây và hiện chủ yếu có mặt ở một số bệnh viện tuyến cuối, trung tâm tim mạch chuyên sâu. Việc Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh ứng dụng kỹ thuật này cho thấy sự cập nhật kịp thời các tiến bộ can thiệp tim mạch hiện đại, mở thêm cơ hội điều trị ít xâm lấn cho bệnh nhân có tổn thương phức tạp.
*Tên người bệnh đã được thay đổi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH