Ông Philip, 61 tuổi, hẹp cả ba mạch máu nuôi tim, nguy cơ nứt vỡ mảng xơ vữa, được đặt stent nong mạch ngăn nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Trước nhập viện một tháng, ông Philip thường xuyên có cảm giác nặng ngực trái, thỉnh thoảng khó thở, hụt hơi khi gắng sức, vã mồ hôi. Nghiêm trọng nhất là có lần ông đau ngực trái không giảm suốt một giờ rồi tự hết. Ông đi khám tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, được BS.CKI Lê Minh Quân, Trung tâm Tim mạch Can thiệp, chỉ định chụp CT mạch vành. Kết quả xác định ông mắc bệnh ba nhánh mạch vành mức độ trung bình, trong đó nặng nhất là động mạch liên thất trước hẹp 70%.
Hẹp động mạch vành là tình trạng các mảng xơ vữa tích tụ trên thành động mạch, làm thu hẹp lòng mạch theo thời gian. Mức độ hẹp tiến triển từ nhẹ đến nặng và đôi khi dẫn đến tắc nghẽn hoàn toàn. Khi cả ba nhánh mạch máu chính nuôi tim đều bị hẹp thì gây ra bệnh ba nhánh mạch vành.
GS.TS.BS Võ Thành Nhân, Giám đốc trung tâm Tim mạch Can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM nhận định, đối với các trường hợp hẹp mạch vành mức độ trung bình như ông Philip, phương pháp điều trị tối ưu là dùng thuốc hoặc đặt stent mạch vành.
Để tìm phương án phù hợp, ê kíp tiến hành đo phân suất dự trữ mạch vành (iFR/FFR). Đây là kỹ thuật được chỉ định cho các tổn thương hẹp mức độ từ 50-70% trên hình ảnh chụp mạch, giúp xác định chính xác tổn thương hẹp nào gây giảm lưu lượng máu thực sự. Tỷ lệ áp lực sau chỗ hẹp/áp lực trước chỗ hẹp (iFR) của ông Philip là 0.92 (< 0.9 là hẹp có chậm dòng chảy). Kết quả đo FFR là 0.85 (< 0.8 là hẹp có ý nghĩa, đã làm giảm lượng máu đến nuôi cơ tim phía sau).
Kết quả chụp mạch vành và đo FFR đều khẳng định tình trạng của bệnh nhân chưa làm giảm lưu lượng tưới máu mạch vành, chưa có chỉ định can thiệp. Tuy nhiên, điều này chưa lý giải được vì sao ông từng xuất hiện cơn đau thắt ngực một giờ – dấu hiệu điển hình cảnh báo cơn nhồi máu cơ tim cấp. Sau khi hội chẩn, giáo sư Nhân nghi ngờ nguyên nhân liên quan đến mảng xơ vữa không ổn định, chỉ định chụp cắt lớp kết quang nội mạch (OCT) cho ông Philip.

Kỹ thuật chụp cắt lớp kết quang nội mạch (chụp cắt lớp kết quang) sử dụng ánh sáng cận hồng ngoại để tạo ra hình ảnh bên trong lòng động mạch vành, nhờ đó thu được hình ảnh của các mạch máu rất rõ nét, gần giống như khi nhìn dưới kính hiển vi. Đồng thời, kỹ thuật này còn cho thấy các đặc điểm hình thái của mảng xơ vữa. OCT giúp các bác sĩ nhìn thấy bên trong động mạch chi tiết hơn gấp 10 lần so với kỹ thuật siêu âm trong lòng mạch vành (IVUS).
Dựa trên hình ảnh thu được khi chụp OCT cho ông Philip, bác sĩ xác định đây là mảng xơ vữa không ổn định với đặc điểm nắp xơ mỏng (bề dày 0.05 mm < 0.065 mm là tiêu chí để chẩn đoán), lõi lipid lớn, dễ gây nứt vỡ. Nếu tình trạng nứt vỡ xảy ra sẽ dẫn đến hội chứng động mạch vành cấp, nhồi máu cơ tim.
Điều này lý giải tại sao bệnh nhân lại có cơn đau ngực một giờ rồi tự hết. Đó có thể là do mảng xơ vữa đột ngột vỡ ra, khiến tiểu cầu bám vào chỗ nứt và hình thành huyết khối làm tắc mạch máu. Sau đó nhờ cơ thể có cơ chế tự tiêu sợi huyết, huyết khối này tan đi.
Để tránh mảng xơ vữa nứt vỡ lại gây nhồi máu cơ tim bất cứ lúc nào, các bác sĩ quyết định can thiệp đặt stent kích thước 4×28 mm vào động mạch liên thất trước cho ông Philip. Nhờ sự hỗ trợ của kỹ thuật OCT, bác sĩ xác định chính xác chiều dài đoạn hẹp, đường kính mạch máu để chọn stent có đường kính, chiều dài phù hợp, và sau đặt stent kiểm tra xem có bóc tách 2 đầu stent gây tắc cấp, stent có nở hết, có áp sát thành mạch, ngăn ngừa tái hẹp sau đặt stent.

Sau can thiệp ông Philip tỉnh táo, không đau ngực và khó thở, xuất viện ngay hôm sau. Bác sĩ căn dặn ông uống thuốc chống kết tập tiểu cầu đầy đủ, kết hợp với các loại thuốc hạ huyết áp, giảm cholesterol máu. Ngoài ra, cần tuân thủ lịch tái khám định kỳ sau một tháng, ba tháng, sáu tháng và một năm sau khi đặt stent để kiểm tra khả năng tưới máu của cơ tim, phòng ngừa tái hẹp.
Bác sĩ Quân khuyến cáo sau khi điều trị bệnh ba nhánh mạch vành, tình trạng tắc nghẽn có thể tiếp tục xảy ra ở những vị trí khác trong hệ mạch vành. Nguy cơ này cao hơn ở những bệnh nhân không uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ, khiến bệnh tái phát chỉ sau 1-2 năm, thậm chí trong vòng 6 tháng sau thủ thuật. Vì thế để giảm rủi ro tái hẹp, người bệnh cần tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ.
Bên cạnh yếu tố tuổi tác, lối sống không lành mạnh là yếu tố nguy cơ gây xơ vữa động mạch. Để phòng ngừa bệnh, nên thay đổi chế độ ăn uống (ăn ít thực phẩm có chứa chất béo xấu, tăng cường ăn trái cây, rau củ, các loại hạt và thực phẩm giàu omega-3, tập thể dục đều đặn, kiểm soát cân nặng, duy trì huyết áp, đường huyết và chỉ số mỡ máu ổn định, không hút thuốc lá, kiểm soát căng thẳng, kiểm tra sức khỏe định kỳ.
*Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH