TP.HCM – Trung, 4 tuổi, có thận trái to gấp đôi thận phải, ứ nước độ III do hẹp khúc nối bể thận – niệu quản bẩm sinh, được phẫu thuật bảo tồn chức năng.
BS.CKII Nguyễn Đức Tuấn, Trưởng khoa Ngoại Nhi, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết, siêu âm ghi nhận thận trái của Trung có kích thước 119x61mm, gần gấp đôi thận phải kích thước 77x35mm (kích thước thận bình thường khoảng 76,7x35mm), vỏ thận giãn mỏng; kết quả xạ hình thận cho thấy hẹp khúc nối bể thận – niệu quản trái; có dấu hiệu nhiễm trùng cấp với chỉ số bạch cầu tăng cao 13.39. Bác sĩ chẩn đoán Trung bị thận ứ nước độ III, cần phẫu thuật tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản nhằm bảo tồn chức năng thận trái.
Gia đình cho biết, siêu âm thai tuần thứ 20 đã phát hiện Trung có một bên thận kích thước lớn hơn bên còn lại. Sau sinh, em được bác sĩ xác định hẹp khúc nối bể thận – niệu quản bẩm sinh, thận ứ nước nhẹ. Do tình trạng bệnh vẫn trong giới hạn chấp nhận, nguy cơ tái hẹp cao nếu can thiệp quá sớm, bác sĩ tư vấn gia đình tiếp tục theo dõi, thăm khám định kỳ.
Bác sĩ Tuấn cho biết, hẹp khúc nối bể thận – niệu quản là dị tật thận – tiết niệu thường gặp ở trẻ, xảy ra ở 1/2000 đến 1/1000 trẻ. Đoạn nối giữa bể thận và niệu quản bị thu hẹp, cản trở dòng chảy của nước tiểu, khiến nước tiểu bị ứ đọng bên trong thận, gây giãn nở bể thận và các đài thận.
Êkíp Ngoại Nhi bóc tách từng lớp cơ thành bụng để tiếp cận thận trái. Sau đó, dẫn lưu 150ml nước tiểu ứ đọng bên trong bể thận, cắt bỏ đoạn niệu quản hẹp, đặt ống thông JJ, tạo hình lại miệng nối giữa bể thận và niệu quản để nước tiểu có thể lưu thông trơn tru từ thận xuống bàng quang. Sau gần 4 tiếng, ca phẫu thuật thành công, Trung được đưa về phòng hậu phẫu để tiếp tục theo dõi. Em có thể đi lại, ăn uống và đi tiểu bình thường ngay sau phẫu thuật và được xuất viện sau 5 ngày.
Bác sĩ Tuấn cho biết, sau phẫu thuật sửa chữa tắc nghẽn, chức năng thận của Trung sẽ dần hồi phục. Tuy nhiên, em cần tái khám theo phác đồ để theo dõi sự hồi phục và can thiệp khác khi cần thiết.

Hẹp khúc nối bể thận – niệu quản bẩm sinh chủ yếu xảy ra do bất thường tại khúc nối như hẹp cơ học bẩm sinh, thiếu hụt cơ trơn hoặc bị thay bằng mô xơ, gây giảm nhu động và cản trở dòng chảy nước tiểu. Ngoài ra, bệnh có thể do sự bất thường của mạch máu, chèn ép từ bên ngoài hoặc do yếu tố di truyền. Đáng lưu ý, ở trẻ nhỏ, bệnh thường không gây triệu chứng rõ ràng trong giai đoạn đầu, dẫn đến thận ứ nước, suy giảm chức năng thận.
Bác sĩ Tuấn giải thích, không phải mọi trường hợp thận ứ nước do hẹp khúc nối phát hiện trước sinh đều cần can thiệp ngay. Nhiều trường hợp bị nhẹ, tình trạng này có thể tự cải thiện theo thời gian, ngay trong thai kỳ hoặc khi trẻ được 1-3 tuổi.
Dựa trên mức độ giãn nở của bể thận, đài thận và mức độ tổn thương nhu mô thận, thận ứ nước được phân làm 4 mức độ. Trong đó, thận ứ nước độ I, bể thận giãn nhẹ; độ II, bể thận và một phần đài thận giãn; độ III như trường hợp của Trung, thận ứ nước tiến triển nặng với bể thận giãn toàn bộ, đài thận giãn, nhu mô thận mỏng, ảnh hưởng chức năng thận; độ IV, bể thận giãn nặng, tổn thương và suy giảm chức năng thận nghiêm trọng.
Phẫu thuật chỉ được chỉ định khi thận ứ nước tiến triển đến độ III-IV, chức năng thận suy giảm rõ rệt hoặc xuất hiện biến chứng như nhiễm trùng, sỏi thận hay đau tái phát nhiều lần. Nếu không được phẫu thuật ngay, thận có thể mất chức năng hoàn toàn, dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như suy thận mạn, nhiễm trùng huyết.
Bác sĩ Tuấn khuyến cáo bố mẹ cần đưa trẻ đến bệnh viện khi có các dấu hiệu bất thường như đau hông lưng, tiểu buốt, nước tiểu đục, sờ thấy khối u vùng bụng, nhiễm trùng tiểu tái phát nhiều lần… Phụ nữ mang thai tránh bỏ sót các cột mốc siêu âm quan trọng như tuần 18-22 bởi đây là thời điểm có thể phát hiện sớm các dị tật thận – tiết niệu bẩm sinh, từ đó có kế hoạch chăm sóc, điều trị tối ưu cho trẻ.
* Tên nhân vật đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH