
Bạch cầu ưa axit còn được gọi là bạch cầu ái toan, đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch giúp cơ thể chống lại tình trạng nhiễm trùng. Vậy bạch cầu ưa acid hay bạch cầu ưa axit là gì, thành phần bạch cầu ưa axit ra sao?

Bạch cầu ưa axit (Acidophilus) là tế bào bạch cầu đa nhân quan trọng trong hệ thống miễn dịch, giúp cơ thể chống lại vi khuẩn, tiêu diệt mầm bệnh. Phần lớn bạch cầu ưa axit ở mô liên kết, đặc biệt là phổi, mạc treo, tuyến vú, thành trong ruột non.
Đây là 1 trong 3 loại tế bào bạch cầu hạt, bao gồm bạch cầu ưa acid, bạch cầu ái kiềm và bạch cầu trung tính. Trong đó, bạch cầu axit có số lượng ít hơn bạch cầu trung tính, chiếm 1-3% lượng bạch cầu lưu thông trong máu.

Chức năng của bạch cầu ưa axit là tham gia vào hệ thống miễn dịch, giúp cơ thể chống lại bệnh nhiễm trùng. Loại bạch cầu này bảo vệ cơ thể khỏi sán dây, giun kim, vi khuẩn nội bào, phản ứng mẫn cảm tức thời…
Trong quá trình chống lại vi khuẩn nội bào và ký sinh trùng, bạch cầu ái toan sẽ giải phóng các hạt đặc hiệu vào bên trong môi trường ngoại bào. Cơ chế hoạt động này góp phần không nhỏ vào quá trình tiêu diệt mầm bệnh trong cơ thể. Một chức năng khác của bạch cầu ưa acid là thúc đẩy sản sinh kháng thể IgM tồn tại trong tế bào lympho B và kích hoạt tế bào lympho T, góp phần củng cố sự chắc khỏe của hệ thống miễn dịch.
Trong một số trường hợp, hoạt động của bạch cầu ưa axit có thể gây bất lợi. Người bệnh hen suyễn dị ứng có thể bị khó thở, nguyên nhân là do bạch cầu hạt ưa axit di chuyển đến phổi, giải phóng các chất gây co thắt đường thở. Ngoài ra, một số người mắc bệnh dạ dày cũng phát hiện loại bạch cầu này tích tụ nhiều trong hệ tiêu hóa.
Nhìn chung, bạch cầu ái toan là tế bào có khả năng tham gia vào nhiều cơ chế miễn dịch khác nhau. Tuy nhiên, nếu hoạt động bị mất cân đối, loại bạch cầu này cũng có thể góp phần thúc đẩy sự tiến triển của một số bệnh lý.
Thành phần bạch cầu ưa axit gồm có các tế bào bạch cầu dạng hạt có nhân, 2 thùy nối nhau bằng sợi Chromatin nhỏ và mảnh, bào tương trong tế bào không hơi thô, xung quanh là các hạt có kích thước đồng nhất.
Cấu tạo của bạch cầu axit gồm có:
Bạch cầu ưa acid được tìm thấy nhiều ở trong các mô của cơ thể, như máu, tủy xương, mô mỡ, phổi, da và bụng. Ngoài ra, loại bạch cầu này cũng tồn tại trong phổi, mạc treo, tuyến vú, thành trong ruột non.
Bạch cầu axit là các tế bào cực nhỏ có hình cầu. Khi quan sát dưới kính hiển vi, đây là các tế bào trong suốt, các kích thích có tính axit có thể làm thay đổi màu sắc của tế bào, chuyển thành màu hồng hoặc tím.
Bạch cầu ưa axit có hình dáng nổi bật hơn so với các tế bào khác với 2 thùy – có dạng giọt nước, được nối với nhau bằng các sợi Chromatin nhỏ và mảnh. Nhân tế bào chứa DNA trong một loại Protein có kết cấu dạng hạt.
Bạch cầu hạt ưa axit chiếm khoảng 1-3% tỷ lệ bạch cầu trong cơ thể con người. Ở người trưởng thành khỏe mạnh, tỷ lệ bạch cầu ái toan lưu thông sẽ ít hơn 5% [1].
Số lượng bạch cầu ưa acid trong cơ thể con người ở mức 0,04-0,4 tỷ/l máu. Tức là, mỗi mm3 máu sẽ có 40-400 bạch cầu ái toan đa nhân [2].

Bạch cầu axit hình thành ở trong tủy xương, tồn tại trong máu, bạch huyết và nhiều mô liên quan khác. Sau đó, bạch cầu hạt ưa axit di chuyển đến các mô mềm trong cơ thể.
Trải qua quá trình ly tâm các mẫu máu, tên gọi bạch cầu nói chung và bạch cầu ưa axit nói riêng được hình thành, tương ứng với lớp trung gian màu trắng. Còn lớp màu đỏ gọi là hồng cầu, lớp trong suốt gọi là huyết tương.
Số lượng bạch cầu ưa acid trong cơ thể sẽ thay đổi trong ngày, chỉ số cao nhất vào buổi sáng sớm, và thấp hơn vào buổi trưa. Tuy nhiên, sự chênh lệch này sẽ không đáng kể, không làm ảnh hưởng sức khỏe hay gây ra bệnh lý. Trẻ em trong giai đoạn chu sinh (tính từ tuần thai thứ 28 đến hết ngày thứ 7 sau sinh) có số lượng bạch cầu ưa axit cao nhất, sau đó giảm dần theo sự phát triển của trẻ. Số lượng bạch cầu ái toan trong cơ thể thai phụ sẽ giảm và gần như biến mất khỏi máu ngoại vi khi thai phụ chuyển dạ.
Các vấn đề bất thường có thể làm ảnh hưởng bạch cầu axit rất hiếm. Trong đó, có 2 tình trạng thường gặp nhất là tăng hoặc giảm bạch cầu ưa acid.
Các thành phần bạch cầu ưa axit phát triển bất thường sẽ làm tăng tỷ lệ tế bào trong máu, mô hay một số tạng. Hoặc quá trình hình thành bạch cầu ưa axit bị rối loạn, thiếu hụt bất kỳ loại bạch cầu nào trong cơ thể cũng sẽ gây ra tình trạng này.
Giảm bạch cầu ưa acid là vấn đề sẽ gặp phải nếu quá trình sản xuất tế bào trong tủy xương có bất thường. Ngoài ra, tình trạng này còn có thể là hệ quả do nhiễm virus, hội chứng loạn sinh tủy, mắc bệnh truyền nhiễm HIV/AIDS,…
Dù là tăng hay giảm lượng bạch cầu hạt ưa axit, sức khỏe con người cũng đều bị ảnh hưởng. Ví dụ, tăng bạch cầu ái toàn là nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa và phổi, giảm bạch cầu ái toan gây nguy cơ nhiễm trùng huyết, bệnh tủy xương,…
Các triệu chứng khi bị rối loạn bạch cầu ưa axit là gì? Những biểu hiện bất thường sẽ xuất hiện ở gần vị trí bị rối loạn. Có thể kể đến là:
Khi kiểm tra chỉ số bạch cầu axit, người bệnh sẽ được yêu cầu xét nghiệm công thức máu toàn phần để xác định số lượng các tế bào. Ngoài ra, bác sĩ cũng chỉ định thực hiện một vài xét nghiệm liên quan:
Ngoài xét nghiệm chỉ số bạch cầu ưa axit, bác sĩ sẽ cần thực hiện thêm một vài xét nghiệm để xác định vị trí của loại bạch cầu này trong trường hợp cần thiết:

Người bệnh có các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh liên quan bạch cầu ưa axit cần đi khám để kiểm soát, can thiệp, điều trị bệnh sớm. Đơn vị Huyết học lâm sàng, khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh cũng như Phòng khám Đa khoa Tâm Anh Quận q7, TP.HCM chuyên thăm khám và điều trị các bệnh lý về máu trong đó có bệnh về bạch cầu ưa acid hiệu quả. Đối với thuốc, tùy từng trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định các loại thuốc phù hợp để điều trị, kiểm soát các bệnh liên quan bạch cầu ưa axit.
Corticosteroid là phương pháp điều trị trình trạng giảm bạch cầu ưa acid. Đây là loại thuốc có kết cấu giống với Cortisol – một loại hormone tự nhiên được sản xuất ở tuyến thượng thận.
Corticosteroid có thể được sử dụng tại chỗ như tiêm khớp, bôi da, nhỏ mắt, nhỏ tai. Ngoài ra, Corticosteroid còn được sử dụng bằng phương pháp điều trị toàn thân, gồm thuốc uống và tiêm tĩnh mạch, tiêm cơ. Thông qua đường lưu thông của máu, Corticosteroid sẽ được dẫn truyền đến nhiều vị trí khác nhau trong cơ thể.
Bác sĩ thường khuyến nghị bệnh nhân sử dụng phương pháp điều trị Corticosteroid tại chỗ để giảm nguy cơ gặp tác dụng phụ như khi điều trị bằng Corticosteroid toàn thân. Phương pháp này sẽ được thực hiện liên tục nếu có tổn thương ở các cơ quan.
Liệu pháp kháng thể đơn dòng, cụ thể là Mepolizumab – một kháng thể IgG có tác dụng điều trị bệnh tăng bạch cầu ưa axit vô căn. Ngoài ra, Reslizumab, Benralizumab và Dupilumab cũng là những loại thuốc sinh học được sử dụng trong liệu pháp điều trị này.
Được sử dụng đối với bệnh nhân mắc hội chứng tăng bạch cầu ái toan có liên quan đến FIP1L1/PDGFRA. Hoặc bệnh nhân bị tổn thương tim cũng như Corticosteroid, sử dụng thuốc Imatinib nhằm ngăn ngừa nguy cơ tổn thương nội tạng.
Đối với bệnh nhân kém dung nạp Imatinib, có thể chuyển sang dùng thuốc Dasatinib, Sorafenib, Nilotinib,… hoặc điều trị bằng phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu.
Sau đây là một số câu hỏi thường gặp về bạch cầu ưa axit.
Để giữ bạch cầu hạt ưa axit luôn khỏe mạnh, hãy thực hiện các cách sau đây:
Acidophilus là tên gọi ít phổ biến hơn của bạch cầu ưa acid. Tên gọi này bắt nguồn từ thuật ngữ “Acidophilic”, có nghĩa là ưa axit, có liên quan đến cách hoạt động của bạch cầu ái toan.
Để đặt lịch thăm khám tại Đơn vị Huyết học lâm sàng, Khoa Nội Tổng hợp, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh cũng như Phòng khám Đa khoa Tâm Anh Quận 7 trong thời gian sớm nhất, Quý khách hãy liên hệ thông tin sau đây:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Như vậy, bạch cầu ưa axit được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, có thể gọi là bạch cầu ái toan, Eosinophil hoặc Acidophilus. Loại bạch cầu này có chức năng quan trọng đối với hệ thống miễn dịch. Nếu số lượng bạch cầu ái toan tăng hoặc giảm bất thường, bệnh nhân cần nhanh chóng điều trị.