
Bạch cầu trung tính là loại tế bào bạch cầu phổ biến nhất, góp phần bảo vệ cơ thể chống lại ký sinh trùng, virus, vi khuẩn… Vậy bạch cầu trung tính là gì, số lượng bạch cầu trung tính hay tỷ lệ bạch cầu trung tính trong cơ thể ra sao?

Bạch cầu trung tính (Neutrophils) là tế bào bạch cầu đóng vai trò như tuyến phòng thủ đầu tiên của hệ thống miễn dịch. Bạch cầu trung tính thuộc nhóm bạch cầu hạt, có nhiệm vụ cùng nhau bảo vệ cơ thể khỏi tình trạng nhiễm trùng, giúp chữa lành vết thương.
Trong giai đoạn cấp tính của phản ứng viêm, đặc biệt trong trường hợp nhiễm trùng vi khuẩn, phơi nhiễm môi trường, mắc một số loại bệnh ung thư,… bạch cầu hạt trung tính là những tế bào bạch cầu đầu tiên di chuyển đến vùng đang bị viêm thông qua các mạch máu, xuyên qua mô kẽ, đi theo những tín hiệu hóa học trong quá trình hóa hướng động.
Bạch cầu đa nhân trung tính được triệu tập đến nơi bị thương chỉ trong khoảng vài phút kể từ lúc cơ thể gặp chấn thương và là biểu hiện đặc trưng của tình trạng viêm nhiễm cấp tính.
Bạch cầu trung tính là tuyến phòng thủ xuất hiện đầu tiên khi hệ thống miễn dịch bị tác nhân gây bệnh tấn công. Chức năng của bạch cầu trung tính là giúp ngăn ngừa tình trạng nhiễm trùng bằng cách ngăn chặn, vô hiệu hóa, thực bào, xua đuổi các hạt hoặc vi sinh vật xâm nhập [1]. Loại bạch cầu này liên tục tìm kiếm những dấu hiệu nhiễm trùng, rồi nhanh chóng tạo ra các phản ứng để bẫy và tiêu diệt mầm bệnh.
Bạch cầu hạt trung tính cũng liên lạc với những tế bào khác để giúp sửa chữa các tế bào, mô bị hư hỏng, tổn thương và tạo ra phản ứng miễn dịch. Loại bạch cầu này cũng giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hệ thống miễn dịch và tình trạng viêm.
Khi có tình trạng viêm hoặc nhiễm trùng trong cơ thể, những hóa chất đặc biệt sẽ được giải phóng và cảnh báo bạch cầu trung tính trưởng thành. Sau đó, bạch cầu trung tính sẽ rời khỏi tủy xương, di chuyển theo dòng máu đến nơi đang cần. Chúng có thể di chuyển qua các điểm nối trong tế bào lót thành mạch máu, xâm nhập trực tiếp vào mô.

Bạch cầu hạt trung tính có đường kính từ 7 – 9 μm [2], nhân hình que, phân chia thành nhiều thùy, không co thắt. Loại bạch cầu hạt (gồm bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm) này có hạt lớn trong bào tương. Các hạt đặc hiệu bắt màu khác nhau khi tiến hành nhuộm trên tiêu bản. Hạt trung tính bắt màu hồng tím, có bản chất chứa nhiều những thành phần có hoạt tính diệt vi khuẩn, gồm có: enzyme hydrolase, myeloperoxidase, lysozyme. Một số hạt chính là lysosome điển hình.
Một số thông tin giải phẫu học của bạch cầu trung tính:
Bạch cầu trung tính hình thành trong tủy xương, rồi di chuyển đến máu, mô và hạch bạch huyết. Loại bạch cầu này có đời sống ngắn và có khả năng di chuyển cao. Bạch cầu trung tính là một loại tế bào có khả năng thực bào, thường được tìm thấy bên trong dòng máu và chiếm ưu thế ở trong mủ, tạo ra màu trắng hoặc vàng của mủ.
Tế bào bạch cầu trung tính trong suốt, không màu. Thuốc nhuộm sẽ làm loại bạch cầu này đổi màu, giúp kỹ thuật viên trong phòng thí nghiệm quan sát được dưới kính hiển vi. Trong trạng thái “nghỉ ngơi” bạch cầu đa nhân trung tính có hình cầu, chúng sẽ thay đổi hình dạng để chống lại tình trạng nhiễm trùng.
Số lượng bạch cầu trung tính thay đổi theo thời gian, tuổi tác và những tình trạng khác, chẳng hạn như khi mang thai. Mặc dù số lượng bạch cầu hạt trung tính của mỗi người khác nhau nhưng nhìn chung các khoảng giá trị sau thường được sử dụng bao gồm:
Bạch cầu chiếm khoảng 1% trên tổng số tế bào trong cơ thể của mỗi người. Tỷ lệ bạch cầu trung tính chiếm khoảng 50 – 80% [4] trên tổng số tế bào bạch cầu.

Nhìn chung, phạm vi bình thường của bạch cầu trung tính ở người trưởng thành mạnh khỏe là từ 2,500 – 7,000 trên một microlit máu. Nếu số lượng bạch cầu hạt trung tính trên hoặc dưới số này, đó có thể là dấu hiệu cảnh báo bệnh lý liên quan đến bạch cầu trung tính.
Số lượng bạch cầu trung tính cần phải được duy trì trong phạm vi cụ thể để giúp cơ thể hoạt động bình thường. Nếu số lượng bạch cầu trung tính ở mức quá thấp hoặc quá cao, người bệnh có thể đã mắc phải một số tình trạng bệnh lý, cụ thể như sau:
Đây là tình trạng số lượng bạch cầu trung tính trong cơ thể ở mức quá cao, thường là kết quả của sự nhiễm trùng do vi khuẩn. Để chống lại tình trạng nhiễm trùng, những bạch cầu trung tính chưa trưởng thành sẽ được huy động rời khỏi tủy xương sớm và đi vào máu.
Số lượng bạch cầu trung tính có thể gia tăng để đáp ứng với một số loại thuốc (như epinephrine, thuốc chủ vận beta-2, corticosteroid), một số bệnh ung thư, căng thẳng về thể chất hoặc cảm xúc, tai nạn, phẫu thuật (như phẫu thuật cắt bỏ lá lách), có thai, hút thuốc lá, béo phì, tình trạng di truyền (như hội chứng Down), … Một số tình trạng có thể làm bạch cầu trung tính tăng, bao gồm viêm gan, viêm ruột, viêm khớp dạng thấp, viêm mạch…
Đây là tình trạng số lượng bạch cầu trung tính trong cơ thể ở mức quá thấp, gây nhiễm trùng lặp đi lặp lại. Sự sụt giảm số lượng bạch cầu trung tính thường xảy ra khi cơ thể dùng những tế bào miễn dịch nhanh hơn mức chúng được tạo ra hoặc tủy xương không sản xuất các tế bào này một cách chính xác. Lách to cũng khiến số lượng bạch cầu trung tính giảm do lách là nơi bắt giữ, phá hủy bạch cầu trung tính và những tế bào máu khác.
Một số tình trạng, quy trình khiến cơ thể sử dụng bạch cầu trung tính quá nhanh gồm có: rối loạn dị ứng, nhiễm khuẩn nghiêm trọng hoặc mạn tính, do thuốc, do bệnh lý rối loạn miễn dịch…
Ngoài ra, còn có một số quy trình, điều kiện và thuốc tác động đến quá trình sản sinh bạch cầu trung tính như: bệnh ung thư, nhiễm virus (như virus cúm), nhiễm trùng (như bệnh lao), thiếu vitamin B12, xạ trị liên quan đến tủy xương, thuốc sulfa, thuốc phenytoin, thuốc hóa trị, chất độc (như benzen), thiếu máu, suy tủy, giảm bạch cầu bẩm sinh nặng, giảm bạch cầu theo chu kỳ…
Những triệu chứng người bệnh có thể gặp phải khi bạch cầu trung tính bị rối loạn gồm: sốt, sưng tấy, nhiễm trùng tái phát, xuất hiện vết loét… Tùy vào nguyên nhân làm bạch cầu trung tính bị rối loạn, người bệnh có thể đối mặt với các triệu chứng khác nhau.

Một số phương pháp xét nghiệm có thể được ứng dụng để kiểm tra tình trạng sức khỏe của bạch cầu trung tính bao gồm:
Những người có thay đổi nhỏ về nồng độ bạch cầu trung tính trong máu thường không có triệu chứng và không cần điều trị. Tuy nhiên, trong trường hợp cần điều trị do mức bạch cầu trung tính bất thường, bác sĩ sẽ cần tập trung vào việc giải quyết các nguyên nhân cơ bản như:
Chứng tăng bạch cầu trung tính thường xảy ra khi cơ thể đang chống lại tình trạng nhiễm trùng hoặc viêm nhiễm do bệnh lý hay chấn thương.Để giúp làm giảm mức bạch cầu trung tính, bác sĩ có thể áp dụng: liệu pháp kháng sinh, liệu pháp chống viêm, liệu pháp hydrat hóa (IV), hóa trị… Người bị tăng mức bạch cầu trung tính bất thường do sử dụng thuốc, làm thủ thuật có thể cần dừng, hoặc điều chỉnh phương pháp chữa trị.
Việc làm tăng mức bạch cầu trung tính có liên quan đến chữa trị nguyên nhân cơ bản gây giảm bạch cầu trung tính. Nếu một người bị các bệnh lý mạn tính làm gián đoạn quá trình sản xuất bạch cầu trung tính, họ có thể cần sử dụng những loại thuốc cho phép cơ thể tăng sản xuất bạch cầu trung tính, ví dụ như các yếu tố kích thích tạo cụm (colony-stimulating factors), corticosteroid, tiến hành ghép tủy xương hoặc tế bào gốc…
Người có số lượng bạch cầu trung tính thấp ở mức nghiêm trọng cần được bác sĩ theo dõi, chữa trị bằng kháng sinh, hoặc nhập viện điều trị để làm giảm nguy cơ bị nhiễm trùng nặng. Tình trạng giảm bạch cầu trung tính có thể xảy ra do cơ thể bị thiếu vitamin B12, vitamin B9. Bác sĩ có thể chỉ định cho người bệnh áp dụng một số biện pháp để bổ sung thêm những loại vitamin này.

Đơn vị Huyết học lâm sàng, Khoa Nội Tổng hợp, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh được nhiều người bệnh tin tưởng lựa chọn để thăm khám, chữa trị hiệu quả các bệnh lý về máu, bao gồm cả các rối loạn ở bạch cầu trung tính. Bệnh viện quy tụ đội ngũ chuyên gia, bác sĩ đầu ngành, nhiều năm kinh nghiệm, được trang bị nhiều máy móc hiện đại, phục vụ tối ưu cho quá trình chẩn đoán, điều trị.
Để duy trì số lượng bạch cầu trung tính ở mức ổn định, cơ thể khỏe mạnh, mỗi người cần áp dụng một số cách để tránh gặp tình trạng nhiễm trùng. Cần thực hành vệ sinh tốt, rửa tay bằng xà phòng thường xuyên, nhất là sau khi tiếp xúc với người đang bị bệnh, tiêm ngừa cúm hàng năm, ăn uống khoa học, … Nếu gặp bất kỳ tình trạng nhiễm trùng hoặc chấn thương nào, bạn cần tiến hành tập trung điều trị ngay.
Để đặt lịch thăm khám, điều trị bệnh tại Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách vui lòng liên hệ:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tóm lại, chức năng của bạch cầu trung tính rất quan trọng với cơ thể, giúp chống lại tình trạng nhiễm trùng, chấn thương. Vì vậy, mỗi người cần chăm sóc sức khỏe thật tốt để giữ cho chỉ số bạch cầu trung tính ở mức khỏe mạnh, phù hợp.