
Bạch cầu ái kiềm giữ vai trò quan trọng đối với hệ thống miễn dịch của cơ thể. Mức bạch cầu ái kiềm quá thấp hoặc quá cao có thể là dấu hiệu cảnh báo vấn đề sức khỏe tiềm ẩn. Vậy bạch cầu ái kiềm là gì? Chức năng và cấu tạo của bạch cầu ái kiềm ra sao?
Lưu ý: Bài viết linh hoạt sử dụng “bạch cầu ái kiềm”, “bạch cầu hạt ưa kiềm”, “bạch cầu hạt ái kiềm” để gần gũi với nhu cầu tìm kiếm thông tin của người dân.

Bạch cầu ái kiềm (Basophils – bạch cầu ưa kiềm) là một loại bạch cầu hạt, hoạt động chặt chẽ với hệ thống miễn dịch để bảo vệ cơ thể khỏi các mầm bệnh, chất gây dị ứng, ký sinh trùng. Bạch cầu ái kiềm giải phóng các enzyme để giúp cải thiện tình trạng lưu thông máu và ngăn ngừa cục máu đông. Trong các loại bạch cầu hạt, bạch cầu ái kiềm có kích thước tế bào lớn nhất. Bạch cầu ái kiềm có vòng đời ngắn, thường chỉ kéo dài 1 – 2 ngày.
Chức năng của bạch cầu ưa kiềm là giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây dị ứng, tình trạng nhiễm trùng (do vi khuẩn, virus, nấm), chất gây dị ứng, tình trạng máu đông [1]. Bạch cầu ái kiềm không nhận ra mầm bệnh đã tiếp xúc trước đó. Loại bạch cầu này tấn công vào bất kỳ sinh vật nào mà chúng thấy xa lạ với cơ thể. Bạch cầu ái kiềm tiêu diệt những sinh vật lạ thông qua cách bao quanh và thực bào.
>> Tham khảo thêm: Bạch cầu ái toan là gì?
Trong phản ứng dị ứng, bạch cầu hạt ưa kiềm giải phóng hai enzyme là histamine và heparin:
Các hạt bạch cầu ái kiềm chứa cả histamine và heparin. Khi có sinh vật lạ xâm nhập vào cơ thể, bạch cầu ái kiềm sẽ được kích hoạt, giải phóng histamine và heparin để hỗ trợ phản ứng của hệ thống miễn dịch giúp tiêu diệt sinh vật đó. Bạch cầu ái kiềm cũng gián tiếp tấn công vào những tác nhân lạ thông qua cách liên kết với tế bào lympho B. Mối liên kết này làm tế bào lympho B giải phóng kháng thể IgE vào máu. IgE có tác dụng giúp chống lại nọc độc và ký sinh trùng.
>> Đọc thêm về: Bạch cầu lympho

Bạch cầu ái kiềm là tế bào miễn dịch có đường kính khoảng 12 – 15 micromet và có nhân hai thùy [2]. Bạch cầu ái kiềm chứa những hạt nhỏ có đường kính khoảng 0,5 μm. Khi quan sát phết máu ngoại biên dưới dưới kính hiển vi, các hạt này có màu xanh, tím và gần như che khuất nhân bên dưới.
Một số thông tin cơ bản về giải phẫu học của bạch cầu ái kiềm gồm có:
Bạch cầu ái kiềm được hình thành trong phần mô xương xốp của xương (tủy xương). Sau khi các tế bào bạch cầu hạt ưa kiềm trưởng thành, chúng sẽ di chuyển qua mạch máu, đi đến các mô đang bị tổn thương để giúp chữa lành vùng bị thương.
Bạch cầu ái kiềm là các tế bào cực nhỏ, hình cầu. Để quan sát những tế bào bạch cầu ái kiềm dưới kính hiển vi, kỹ thuật viên trong phòng thí nghiệm sẽ thêm thuốc/chất nhuộm vào mẫu tế bào. Điều này làm cho các tế bào chuyển từ màu tím sang màu đen. Tế bào bạch cầu ái kiềm có nhân hai thùy (giống hai giọt nước mưa được kết nối thông qua một sợi mỏng), trông như các hạt chấm bi màu đen, tím nhỏ, trôi nổi trong tế bào chất (chất lỏng màu hồng nhạt).

Những tế bào bạch cầu chỉ chiếm khoảng 1% trên tổng số tế bào trong cơ thể. Tỷ lệ bạch cầu ái kiềm chiếm chưa đến 1% trên tổng số tế bào bạch cầu. [3]
Số lượng bạch cầu ái kiềm bình thường ở mức từ 0,5 – 1% trên tổng số lượng bạch cầu. Định mức này tương đương với khoảng 0 – 300 bạch cầu ái kiềm trên 1 microlit máu (ở người trưởng thành mạnh khỏe) [4]. Nếu số lượng bạch cầu ái kiềm của một người nằm ngoài phạm vi được đề cập ở trên tức là người đó có nguy cơ gặp phải các vấn đề sức khỏe liên quan đến bạch cầu ái kiềm.
Vai trò của bạch cầu hạt ái kiềm chưa được hiểu rõ trong một khoảng thời gian dài. Thế nhưng các nghiên cứu hiện nay chỉ ra rằng bạch cầu ái kiềm hoạt động tương tự như tế bào mast – những tế bào bạch cầu được tìm thấy trong các mô liên kết ở khắp cơ thể. Bạch cầu ái kiềm có vai trò trong việc “giám sát miễn dịch”. Điều này có nghĩa là chúng có khả năng phát hiện, tiêu diệt một số loại tế bào ung thư (giai đoạn đầu).
>> Tham khảo thêm: Bạch cầu trung tính
Bạch cầu ái kiềm còn có vai trò quan trọng khác là giải phóng histamine trong hạt của chúng khi người bệnh lên cơn hen hoặc có phản ứng dị ứng. Bạch cầu ái kiềm cũng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể, giúp chống lại các mầm bệnh như vi khuẩn, virus, giun sán/giun ký sinh lây nhiễm vào hệ tiêu hóa, nọc độc của một số loại động vật (như bọ cạp, rắn, ong mật).
Nhìn chung, có hai loại tình trạng thường gặp ảnh hưởng đến bạch cầu ái kiềm, bao gồm:
Tình trạng bạch cầu ái kiềm tăng tức là cơ thể có quá nhiều bạch cầu loại này. Đây có thể là dấu hiệu của bệnh lý tiềm ẩn nào đó, chẳng hạn như: bệnh bạch cầu, xơ tủy, đa hồng cầu nguyên phát, suy giáp (tuyến giáp hoạt động kém), bệnh viêm ruột, thủy đậu, viêm khớp dạng thấp, bệnh vẩy nến, dị ứng, ung thư hạch, rối loạn tăng sinh tủy, tăng tiểu cầu…
Tình trạng bạch cầu ái kiềm giảm tức là cơ thể không sản sinh hoặc tăng tiêu thụ đủ lượng bạch cầu ái kiềm. Loại bạch cầu này giảm thường không phải là vấn đề đáng lo ngại. Thế nhưng tình trạng bạch cầu ái kiềm giảm quá thấp có thể đến từ nguyên nhân bệnh lý/vấn đề sức khỏe đáng chú ý. Lúc này, nguyên nhân có thể là do bạch cầu ái kiềm đang phải hoạt động quá nhiều để giúp chống lại tình trạng nhiễm trùng cấp tính/phản ứng dị ứng nghiêm trọng hoặc người bệnh mắc chứng cường giáp (tuyến giáp hoạt động quá mức).
Những tình trạng khác cũng có thể làm giảm số lượng bạch cầu ái kiềm gồm có: phản ứng căng thẳng (ví dụ như bị nhồi máu cơ tim), áp dụng liệu pháp steroid dài hạn, xạ trị/hóa trị…

Triệu chứng khi bạch cầu ái kiềm hay bạch cầu ưa kiềm bị rối loạn biểu hiện như thế nào còn tùy vào từng nguyên nhân cụ thể, chẳng hạn như:
Bác sĩ thường kiểm tra các tế bào máu thông qua kỹ thuật xét nghiệm công thức máu toàn phần (CBC). Mẫu máu từ tĩnh mạch sẽ được thu thập mang đi xét nghiệm để sàng lọc, chẩn đoán một số bệnh lý, vấn đề sức khỏe, tình trạng nhiễm trùng thông qua cách đo, đếm những tế bào máu.
Bạch cầu ái kiềm là một loại tế bào bạch cầu, thế nên bác sĩ sẽ chỉ định làm xét nghiệm công thức máu toàn phần có phân biệt, đếm các loại tế bào bạch cầu trong mẫu máu để xác định xem số lượng của từng loại tế bào bạch cầu có bình thường, quá cao/quá thấp hay không.
Đối với kỹ thuật xét nghiệm phết máu ngoại vi, mẫu máu sẽ được đặt trên một phiến kính để kỹ thuật viên kiểm tra dưới kính hiển vi. Kỹ thuật viên thêm thuốc nhuộm vào máu để phân biệt những loại bạch cầu khác nhau. Kỹ thuật viên/máy móc có thể đếm số lượng của từng loại tế bào bạch cầu trong mẫu, đưa ra kết quả theo tỷ lệ phần trăm.
Hai kỹ thuật xét nghiệm giúp xác định cụ thể tình trạng của bạch cầu ái kiềm gồm có:
Thông thường, số lượng của tế bào bạch cầu ái kiềm có thể gợi ý về một số bệnh lý. Thế nhưng bác sĩ cần chỉ định cho người bệnh làm các xét nghiệm khác để xác nhận chẩn đoán.
Bác sĩ có thể chỉ định cho người bệnh làm xét nghiệm kích hoạt bạch cầu ái kiềm (BAT) để kiểm tra những chất gây dị ứng cụ thể. BAT liên quan đến việc thêm các chất gây dị ứng tiềm ẩn vào mẫu máu để kiểm tra dị ứng. Nếu một người bị dị ứng, bạch cầu ái kiềm trong máu sẽ kích hoạt các phân tử cụ thể. BAT là kỹ thuật giúp xác nhận chứng dị ứng thực phẩm. BAT cũng có thể hỗ trợ bác sĩ theo dõi phản ứng của hệ thống miễn dịch với những chất gây dị ứng thực phẩm.

Bác sĩ có thể chỉ định xét nghiệm hoặc chữa trị nếu kết quả xét nghiệm máu của người bệnh cho thấy mức bạch cầu ái kiềm cao bất thường. Phương pháp chữa trị được áp dụng phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản, chẳng hạn như:
Đơn vị Huyết học lâm sàng, Khoa Nội Tổng hợp, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh là cơ sở y tế uy tín được nhiều người bệnh chọn đến thăm khám, điều trị các bệnh lý về máu, bệnh lý có liên quan đến máu. Nơi đây quy tụ bác sĩ có nhiều năm kinh nghiệm, giỏi chuyên môn, chu đáo, tận tình, ứng dụng các trang thiết bị, máy móc xét nghiệm máu tân tiến, hiện đại phục vụ tối đa cho quá trình chẩn đoán, điều trị đạt hiệu quả tối ưu.
Người bệnh có thể đặt lịch hẹn thăm khám thông qua hotline 024 3872 3872 – 024 7106 6858 (Hà Nội) hoặc 093 180 6858 – 0287 102 6789 (TP.HCM).
Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp có liên quan đến bạch cầu ái kiềm:
Để giữ cho tình trạng của bạch cầu ái kiềm được mạnh khỏe, mỗi người có thể áp dụng một số cách như: bổ sung vi chất theo chỉ định của bác sĩ để giúp tăng cường hệ miễn dịch (chẳng hạn như vitamin B6, C, E, kẽm…), tránh tiếp xúc với những chất gây dị ứng, giảm stress, áp dụng chế độ dinh dưỡng cân bằng…

Bạch cầu ái kiềm và tế bào Mast đều là những loại bạch cầu hạt nhắm vào những phản ứng dị ứng. Bạch cầu ái kiềm có hình cầu và tế bào Mast có hình thuôn dài. Bạch cầu ái kiềm lưu thông trong máu và rất giống với tế bào Mast. Tế bào Mast là những tế bào có mặt trong các mô/tế bào có chất là các hạt ưa kiềm. Hạt ưa kiềm trong tế bào Mast thường nhỏ hơn hạt có trong bạch cầu ái kiềm. Tế bào Mast cũng chứa nhiều hạt ưa kiềm hơn bạch cầu ái kiềm (khoảng 90%).
Để đặt lịch thăm khám, điều trị bệnh tại Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách vui lòng liên hệ:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tóm lại, khi gặp bất kỳ vấn đề nào có liên quan đến bạch cầu ái kiềm (hay bạch cầu hạt ưa kiềm, bạch cầu ưa kiềm) dẫn đến các triệu chứng, biểu hiện bất thường, người bệnh nên nhanh chóng đến cơ sở y tế uy tín kiểm tra sức khỏe. Thông qua kết quả xét nghiệm, thăm khám, bác sĩ có thể đề ra phương hướng chữa trị phù hợp.