Tăng huyết áp là căn bệnh phổ biến thứ 4 tại Việt Nam. Theo thống kê, cứ 100.000 dân, có hơn 403 trường hợp được chẩn đoán mắc bệnh do các yếu tố nguyên phát. Con số trong thực tế có thể cao hơn do bệnh thường diễn tiến âm thầm, không có biểu hiện bất thường đặc trưng ở giai đoạn đầu. Có nhiều yếu tố nguy cơ tăng huyết áp, bao gồm tuổi tác, giới tính, chủng tộc, lối sống… Nếu không được phát hiện sớm và kiểm soát, can thiệp kịp thời, có thể dẫn đến đột tử.

Căn bệnh này được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng” bởi bệnh có thể diễn tiến âm thầm trong thời gian dài mà không gây triệu chứng rõ rệt. Có nhiều yếu tố góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh, bao gồm yếu tố không thể thay đổi như tuổi tác, di truyền, giới tính, chủng tộc, yếu tố lối sống; và yếu tố có thể thay đổi như chế độ ăn uống, sinh hoạt… Dưới đây là những yếu tố dẫn đến chỉ số huyết áp bị tăng phổ biến:
Càng lớn tuổi, nguy cơ huyết áp bị tăng càng cao. Theo thời gian, mạch máu dần mất đi tính đàn hồi, làm tăng sức cản dòng máu dẫn đến huyết áp cao. Ước tính có khoảng 9/10 người trưởng thành ở Mỹ sẽ bị tăng huyết áp trong suốt cuộc đời. (1)
Tiền sử gia đình cũng là một trong những yếu tố quan trọng để xác định nguy cơ mắc bệnh. Nếu gia đình có cha mẹ hoặc họ hàng bị huyết áp cao, bạn có nguy cơ cao gặp bệnh lý này hay bệnh tim hoặc các rối loạn chuyển hóa khác.
Ngoài yếu tố gen di truyền, các thành viên trong cùng gia đình còn có xu hướng chia sẻ môi trường sống, thói quen sinh hoạt và lối sống tương tự nhau. Điều này cũng là yếu tố góp phần đáng kể vào nguy cơ gây bệnh.
Cả nam và nữ đều có nguy cơ mắc bệnh, tuy nhiên nguy cơ này có thể khác nhau theo từng độ tuổi. Ở giai đoạn trung niên, nam giới thường có nguy cơ huyết áp bị tăng cao hơn. Trong khi đó nữ giới sau 65 tuổi có nguy cơ cao hơn.

Chủng tộc cũng là yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh. Nhiều nghiên cứu cho thấy người gốc Phi có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn những chủng tộc khác. Ngoài ra, người da đen thường bị tăng huyết áp ở độ tuổi sớm hơn, mức độ bệnh có xu hướng nghiêm trọng hơn, dễ dẫn đến biến chứng tim mạch nếu không được kiểm soát tốt. (2)
Lối sống không lành mạnh, ăn uống không điều độ, hạn chế luyện tập thể thao… cũng góp phần gia tăng nguy cơ tăng chỉ số huyết áp:
Ăn nhiều muối làm tăng nguy cơ tích nước trong cơ thể, khiến tim phải làm việc nhiều hơn. Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến huyết áp cao. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo mỗi người trưởng thành không tiêu thụ quá 5 gam muối/ngày (tương đương khoảng một thìa cà phê). Lượng muối này bao gồm trong thực phẩm và gia vị được thêm vào món ăn khi chế biến.
Tiêu thụ quá nhiều đường tinh luyện, đặc biệt từ nước ngọt có ga, bánh kẹo, thức uống đóng chai có thể làm tăng cân, gây rối loạn quá trình chuyển hoá cũng như tăng nguy cơ bị huyết áp cao. Đường cũng làm gia tăng đề kháng insulin, ảnh hưởng đến các mạch máu nhỏ trong cơ thể.
Chất béo bão hòa thường có trong mỡ động vật, đồ chiên rán, thịt đỏ hoặc bơ gây tăng cholesterol trong máu, từ đó tăng nguy cơ xơ vữa động mạch và tăng huyết áp. Để cải thiện sức khỏe tim mạch, nên giảm lượng chất béo bão hoà và thay thế bằng các chất béo không bão hoà có trong dầu oliu, quả bơ, các loại hạt…

Các thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn nhanh, thực phẩm đóng hộp thường chứa nhiều muối, chất béo không lành mạnh, phụ gia và chất bảo quản. Dùng các sản phẩm này trong thời gian dài không chỉ làm tăng nguy cơ bị cao huyết áp mà còn gây ra hệ lụy sức khỏe như đái tháo đường, béo phì, rối loạn mỡ máu.
Các khoáng chất như kali, magie, canxi đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa nhịp tim, sự co giãn mạch máu, từ đó góp phần ổn định huyết áp. Chế độ ăn uống thiếu hụt các khoáng chất này có thể gây mất cân bằng điện giải, gây co mạch và tăng áp lực mạch máu, từ đó trở thành yếu tố nguy cơ tăng mức huyết áp. Kali, magie, canxi có thể được bổ sung qua chế độ ăn nhiều rau củ, trái cây, sữa…
Thiếu vận động không chỉ ảnh hưởng đến khả năng tuần hoàn máu, điều hòa huyết áp mà còn ảnh hưởng đến nhiều chức năng trong cơ thể. Người ít vận động có nguy cơ mắc bệnh huyết áp cao, đái tháo đường, tim mạch. Vì vậy, việc duy trì luyện tập thể thao thường xuyên, cường độ phù hợp như đạp xe, bơi lội, đi bộ ít nhất 150 phút mỗi tuần góp phần nâng cao sức khỏe tổng thể, giảm nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp.
Căng thẳng kéo dài có thể kích hoạt hệ thần kinh giao cảm, làm tăng nhịp tim và co mạch máu, từ đó dẫn đến huyết áp thay đổi xấu đi. Nguy cơ này càng cao nếu căng thẳng đi kèm các thói quen xấu như ăn uống thất thường, hút thuốc, lạm dụng rượu bia, nước ngọt hoặc lười vận động.
Các chuyên gia khuyến nghị nên cân bằng cảm xúc, duy trì chế độ sinh hoạt và nghỉ ngơi hợp lý, tập yoga, thiền định hoặc các hoạt động thư giãn tinh thần để giảm bớt căng thẳng, góp phần giảm nguy cơ huyết áp tăng bất thường.
Đối với các trường hợp mắc chứng rối loạn lo âu, nên thăm khám với bác sĩ, chuyên gia tâm lý để có hướng điều trị phù hợp.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng cảm giác sống cô đơn, tách biệt với xã hội hoặc thiếu sự hỗ trợ tinh thần có thể làm tăng hormone căng thẳng trong cơ thể, ảnh hưởng đến nhịp tim, huyết áp.
Mất ngủ, rối loạn giấc ngủ kéo dài là những yếu tố khiến căng thẳng tâm lý trở nên nghiêm trọng hơn. Việc nghỉ ngơi không hợp lý sẽ làm rối loạn hệ thống thần kinh, chuyển hóa, tăng nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch, huyết áp cao, đột quỵ. Vì vậy các chuyên gia khuyến nghị mỗi người cần ngủ đủ 7-8 tiếng mỗi đêm, duy trì thói quen ngủ sớm để góp phần nâng cao sức khỏe tổng thể.

Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến nhiều bệnh lý nghiêm trọng, bao gồm tăng huyết áp. Hàm lượng nicotin cao trong thuốc lá làm ảnh hưởng chỉ số huyết áp; trong khi đó việc hít phải cacbon monoxit trong khói thuốc lá có thể làm giảm tải lượng oxy trong máu. Nhìn chung về lâu dài, người hút thuốc lá trực tiếp hay hút thuốc lá thụ động đều có nguy cơ cao bị xơ vữa động mạch, tim mạch, đột quỵ…
Caffein có thể làm thay đổi chỉ số huyết áp tạm thời, đặc biệt ở những người không thường xuyên sử dụng thức uống có chứa hợp chất này. Nếu chỉ số huyết áp tăng cao sau khi sử dụng các loại thức uống như trà đặc, cà phê, người dùng nên giảm liều lượng hoặc chuyển sang thức uống khác lành mạnh hơn.
Thói quen uống rượu bia thường xuyên gây ra nhiều vấn đề sức khỏe như rối loạn nhịp tim, tổn thương gan, tăng huyết áp. Các chuyên gia khuyến nghị nam giới không uống quá 2 đơn vị cồn/ngày, phụ nữ không vượt quá 1 đơn vị/ngày (1 đơn vị tương đương 330ml bia hoặc 150 ml rượu vang). Đồng thời kiểm soát lượng cồn tiêu thụ cần thiết để bảo vệ sức khỏe tim mạch.
Sử dụng ma túy, chất kích thích có tác động mạnh đến hệ thần kinh, gây co mạch đột ngột, tăng nhịp tim và huyết áp. Tình trạng này kéo dài có thể dẫn đến tăng huyết áp cấp, thậm chí đột tử do nhồi máu cơ tim.
Ô nhiễm không khí, đặc biệt là bụi mịn có thể làm tổn thương nội mạc mạch máu , gây viêm và làm ảnh hưởng đến huyết áp. Vì vậy nếu sống hoặc làm việc trong môi trường nhiều khói bụi, gần khu công nghiệp, giao thông đông đúc,… người dân nên sử dụng khẩu trang y tế đạt chuẩn, lắp đặt hệ thống lọc không khí trong nhà. Trong trường hợp làm việc tiếp xúc với bụi công nghiệp, cần mặc đầy đủ các trang phục bảo hộ chuyên dụng.
Ở những trường hợp thừa cân, béo phì, tim cần làm việc nhiều hơn để bơm máu và oxy đi khắp cơ thể. Theo thời gian, tình trạng này có thể gia tăng áp lực cho hệ thống tim mạch.
Ngoài ra, người béo phì có liên quan đến rối loạn mỡ máu, lượng cholesterol và triglyceride cao hơn dẫn đến bệnh tim, tiểu đường, thận, rối loạn nội tiết, chuyển hóa. Các chuyên gia khuyến cáo việc giảm 5-10% trọng lượng cơ thể cũng có thể góp phần điều hòa huyết áp, giảm nguy cơ mắc bệnh lý toàn thân nguy hiểm.
Các bệnh lý mạn tính như đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, bệnh tim mạch hay suy giảm chức năng thận có thể gây tổn thương lòng mạch máu, tăng sức cản máu và dẫn đến chỉ số huyết áp cao hơn bình thường. Những người mắc các bệnh này thường có nguy cơ cao hơn, đồng thời gặp biến chứng tim mạch nặng hơn nếu huyết áp không được kiểm soát tốt.

Một số phụ nữ bị tăng chỉ số huyết áp trong giai đoạn thai kỳ, xảy ra do sự thay đổi nội tiết và tuần hoàn máu, khiến huyết áp tăng cao hơn bình thường. Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro sức khỏe cho cả mẹ và bé trong thai kỳ như tiền sản giật, suy tạng, sinh non…
Nhịn tiểu trong thời gian dài có thể làm bàng quang căng tức, kích thích thần kinh giao cảm, và làm huyết áp tăng tạm thời. Nếu tình trạng này diễn ra lặp lại thường xuyên, có thể trở thành yếu tố nguy cơ của bệnh, đặc biệt ở người có sẵn nguy cơ tim mạch hoặc chức năng thận yếu.
Theo thống kê gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong do các bệnh lý tim mạch ước tính khoảng 178 trên 100.000 dân mỗi năm, thuộc nhóm quốc gia có nguy cơ cao. Việc đánh giá các nguy cơ tim mạch tổng thể ở bệnh nhân cao huyết áp được khuyến nghị theo các mô hình đánh giá nguy cơ đa yếu tố để có thể dự báo nguy cơ tim mạch chung của người dân, qua đó có phương pháp quản lý bệnh tối ưu.
Theo VSH/ VNHA 2022, do Việt Nam chưa có dữ liệu đầy đủ để xác định chính xác nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân THA nên sử dụng thang điểm nguy cơ tim mạch tương đối của ISH 2020 theo yếu tố nguy cơ tổn thương HMOD và bệnh đồng mắc. Qua những tiến bộ gần dây ESH 2023, ESC 2024, VSH đã bổ sung nhiều yếu tố nguy cơ, HMOD.

HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Một số yếu tố nguy cơ tăng huyết áp có thể kiểm soát, sự phòng sớm, song một số yếu tố không thể thay đổi. Để phòng ngừa và kiểm soát bệnh hiệu quả, cần duy trì lối sống lành mạnh, ăn uống khoa học, luyện tập thể thao thường xuyên, hạn chế các thói quen xấu và kiểm tra sức khỏe định kỳ mỗi 6-12 tháng/lần. Nếu đang bị tăng huyết áp, nên trao đổi với bác sĩ chuyên khoa để được hướng dẫn cách kiểm soát bệnh.