Theo thống kê từ Hiệp hội Tim mạch Mỹ/Hiệp hội Đột quỵ Mỹ (AHA/ASA), trong tổng số các lượt khám cấp cứu, khoảng 0,5 – 3% các trường hợp bệnh nhân có biểu hiện nghi ngờ tăng huyết áp ác tính. 1/4 các trường hợp cần được điều trị khẩn cấp để hạ huyết áp xuống mức an toàn.
Tăng huyết áp ác tính là gì?
Tăng huyết áp ác tính hay còn gọi hiểu là trường hợp huyết áp tăng cấp cứu, là tình trạng chỉ số bị tăng cao đột ngột, với mức huyết áp tâm thu > 180mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương > 120 mmHg, có kèm theo tổn thương cơ quan đích mới xuất hiện, tiến triển hoặc nặng hơn.
Đặc trưng của tình trạng huyết áp cao ác tính là tổn thương vi mạch cấp tính và suy giảm tự điều hòa, ảnh hưởng đến võng mạc, tim, não, thận và hệ mạch máu. Bệnh nhân có thể xuất hiện những triệu chứng rõ rệt như đau đầu dữ dội, mờ mắt, tức ngực, khó thở hoặc rối loạn tri giác.
Đây là tình trạng nguy hiểm, có thể dẫn đến các biến chứng như đột quỵ, suy tim, suy thận, thậm chí đe dọa tính mạng người bệnh. Do đó, bệnh nhân cần được cấp cứu, xử trí kịp thời bằng thuốc hạ áp đường tĩnh mạch để giảm huyết áp một cách an toàn, đồng thời theo dõi sát và tiếp tục điều trị tích cực.
Huyết áp trên 180/120 mmHg được xác định là trường hợp huyết áp tăng ác tính
Nguyên nhân dẫn đến huyết áp bị tăng ác tính
Ở bệnh nhân gặp tình trạng này, sẽ tổn thương mạch máu, đặc trưng của tổn thương là hoại tử dạng fibrin của các tiểu động mạch và động mạch nhỏ, gây ra các biểu hiện lâm sàng của tổn thương cơ quan đích. Hồng cầu bị tổn thương khi chảy qua các mạch máu bị tắc nghẽn do lắng đọng fibrin, dẫn đến thiếu máu tan máu vi mạch.
Những nguyên nhân khác có thể dẫn đến tình trạng trên, bao gồm:
Huyết áp bị tăng mạn tính không được kiểm soát tốt: Có khoảng 1% bệnh nhân do yếu tố nguyên phát tiến triển thành ác tính. Nguyên nhân thường gặp là do người bệnh không tuân thủ đúng trong điều trị thuốc, uống thuốc không đều đặn, không đúng liều hoặc tự ý ngưng thuốc đột ngột khiến chỉ số bị tăng vọt.
Bệnh lý thận như: Suy thận, viêm cầu thận, hẹp động mạch thận, u tủy thượng thận làm rối loạn cơ chế điều hòa huyết áp.
Hẹp eo động mạch chủ: Bệnh lý là nguyên nhân thứ phát làm tình trạng huyết áp trầm trọng hơn, do dòng máu bị cản trở khi đi qua đoạn động mạch chủ bị thu hẹp.
Rối loạn nội tiết: Khối u tuyến thượng thận (pheochromocytoma) cường aldosteron, suy giáp, hội chứng Cushing gây tăng sản xuất hormone làm co mạch và giữ muối, nước.
Phụ nữ trong thai kỳ và tiền sản giật: Phụ nữ mang thai, đặc biệt ở tam cá nguyệt thứ ba có nguy cơ cao bị huyết áp ác tính do thay đổi nội tiết và tuần hoàn.
Lạm dụng chất kích thích hoặc thuốc gây co mạch: Cocaine, amphetamine, thuốc tránh thai, NSAIDs,… có thể làm huyết áp lên cao.
Chấn thương tủy sống hoặc bệnh lý mạch máu: Tổn thương hệ thần kinh trung ương hoặc hẹp van động mạch chủ làm ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát huyết áp.
Dấu hiệu tăng huyết áp ác tính
Bệnh lý thường khởi phát từ tăng huyết áp kịch phát và có thể nhanh chóng gây tổn thương nghiêm trọng đến các cơ quan quan trọng, diễn tiến thành ác tính. Các dấu hiệu thường gặp của tình trạng ác tính bao gồm:
Các biểu hiện thường gặp của tổn thương cơ quan đích do vấn đề này bao gồm: xuất huyết não, đột quỵ thiếu máu cục bộ cấp tính, nhồi máu cơ tim, suy tim cấp tính. Kèm theo đó là phù phổi, đau thắt ngực không ổn định, bóc tách động mạch chủ cấp, suy thận cấp.
Do đó, nếu bệnh nhân gặp trường hợp này cần phải nhập viện ngay lập tức, các bác sĩ không khuyến cáo bệnh nhân tự ý dùng thuốc hạ áp đường uống để điều trị ban đầu.
Đau đầu dữ dội, mờ mắt thường thấy ở bệnh nhân có chỉ số huyết áp bị cao bất thường
Chỉ số huyết áp ở trạng thái ác tính vô cùng nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến tính mạng người bệnh nếu không được xử trí kịp thời. Khi huyết áp bị tăng quá cao trong thời gian ngắn, các cơ quan trong cơ thể bị tổn thương nghiêm trọng. Đáng chú ý, tình trạng này thường diễn tiến nhanh và để lại hậu quả nặng nề nếu không được kiểm soát đúng cách.
Trước khi có các liệu pháp điều trị hiệu quả, tuổi thọ của bệnh nhân huyết áp cao ác tính chỉ dưới 2%, phần lớn tử vong là do biến chứng đột quỵ, suy thận hoặc suy tim. Tỷ lệ sống sót sau 1 năm là dưới 25% và sau 5 năm chỉ còn dưới 1%.
Tuy nhiên, với những liệu pháp điều trị huyết áp ác tính hiện nay, đã giúp nâng cao tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân sau 1 năm lên tới hơn 90% và sau 5 năm là 80%. Nguyên nhân tử vong phổ biến nhất là do tim mạch, tiếp theo đó là đột quỵ và suy thận. (2)
Cách xử lý khi gặp cơn tăng huyết áp ác tính?
Xử trí nhanh chóng, đúng cách ngay từ đầu khi gặp phải tình trạng này đóng vai trò then chốt, giúp cải thiện tiên lượng và nâng cao hiệu quả điều trị cho người bệnh.
Lập tức đo huyết áp khi nhận thấy bản thân hoặc người xung quanh có biểu hiện như: đau đầu dữ dội, thay đổi thị lực, khó thở, đau ngực hoặc xuất hiện các dấu hiệu bất thường về thần kinh.
Xác định tình trạng: Nếu kết quả đo cho thấy huyết áp tâm thu > 180 mmHg hoặc huyết áp tâm trương > 120 mmHg, kèm dấu hiệu tổn thương các cơ quan tim, mắt, não, thận,… thì xác định đây là tình huống khẩn cấp.
Gọi cấp cứu ngay lập tức: Cần nhanh chóng gọi cấp cứu hoặc nhờ người xung quanh hỗ trợ đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất.
Trong thời gian đợi cấp cứu, nên giữ cho người bệnh ở tư thế thoải mái, tốt nhất là tư thế nửa nằm nửa ngồi, đầu cao hơn tim; đồng thời nói lỏng cà vạt, thắt lưng, cổ áo,… để giúp lưu thông máu và hô hấp dễ dàng hơn.
Cần nhanh chóng đưa người bệnh đến cấp cứu nếu huyết áp thay đổi xấu đi và kèm triệu chứng
Biến chứng của huyết áp tăng ác tính
Tình trạng này có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ quan trong cơ thể:
Tim mạch: Nguy cơ suy tim, rối loạn nhịp tim, phì đại thất trái, bệnh mạch vành, thậm chí đột tử.
Thận: Tổn thương cầu thận, suy thận cấp hoặc mạn tính, bệnh nhân có thể cần lọc máu hoặc phải ghép thận.
Não bộ: Biến chứng đột quỵ, xuất huyết não, phù não, giảm trí nhớ, rối loạn thần kinh.
Mắt: Xuất huyết võng mạc, phù gai thị, giảm thị lực hoặc mù lòa.
Toàn thân: Giảm chất lượng cuộc sống, hội chứng chuyển hóa, ảnh hưởng đến khả năng vận động và nhận thức.
Điều trị tăng huyết áp ác tính như thế nào?
Bệnh nhân cần được can thiệp nhanh chóng và chính xác để ngăn ngừa tổn thương cơ quan đích. Việc hạ huyết áp cần được kiểm soát chặt chẽ, giảm từ từ để tránh biến chứng do thiếu máu cục bộ. Đồng thời, cần theo dõi sát các dấu hiệu tổn thương cơ quan đích như tim, não, thận, mắt,…
Thuốc hạ áp đường tĩnh mạch là lựa chọn ưu tiên trong giai đoạn cấp bách để kiểm soát huyết áp nhanh chóng và chính xác. Các thuốc thường dùng như: Nicardipine, Labetalol, Esmolol, Nitroprusside,…
Trong giờ đầu, huyết áp tâm thu nên giảm không quá 25%, sau đó tiếp tục hạ xuống khoảng 160/100-110 mmHg trong 2-6 giờ, và thận trọng hạ về mức bình thường trong vòng 24-48 giờ. Bệnh nhân được chuẩn vào phòng chăm sóc đặc biệt (ICU) để theo dõi liên tục huyết áp, điện tim, chức năng thận và thần kinh. Sau khi bệnh nhân ổn định, bác sĩ sẽ chuyển sang thuốc đường uống để kiểm soát huyết áp lâu dài tại nhà.
Một số trường hợp cần điều chỉnh mục tiêu huyết áp riêng biệt như:
Bóc tách động mạch chủ: Cần hạ nhanh huyết áp tâm thu xuống dưới 120 mmHg trong giờ đầu.
Tiền sản giật, sản giật, u tủy thượng thận: Mục tiêu hạ huyết áp tâm thu < 140mmHg trong giờ đầu.
Nhồi máu não cấp trong vòng 72 giờ: Nếu huyết áp > 220/110 mmHg cần hạ không quá 15% trong 24 giờ đầu. Nếu cần truyền thuốc tiêu sợi huyết, hạ < 185/110 mmHg trước khi truyền và giữ < 180/105 mmHg trong 24 giờ sau truyền.
Nhồi máu não >=72 giờ: Bệnh nhân đã được điều trị hạ áp trước đó, mục tiêu huyết áp là < 130/80 mmHg. Nếu chưa được điều trị trước đó, huyết áp >= 140/90 mmHg cần được can thiệp để đạt < 130/80 mmHg; huyết áp < 140/90 mmHg thì không cần điều trị.
Xuất huyết nội sọ < 6 giờ: Huyết áp > 220mmHg cần được truyền thuốc hạ áp qua đường tĩnh mạch và theo dõi sát. Nếu huyết áp 150 – 220 mmHg, nên hạ đến 140 mmHg là an toàn, không hạ xuống dưới 140 mmHg.
Bệnh nhân có mức huyết áp vọt cao nghiêm trọng được cấp cứu và truyền thuốc hạ áp đường tĩnh mạch
Biện pháp phòng ngừa mức huyết áp thay đổi xấu đi thành ác tính
Tập trung kiểm soát huyết áp từ sớm và duy trì lối sống lành mạnh là chìa khóa giúp phòng ngừa bệnh tiến triển nặng. Mỗi người nên thực hiện các biện pháp bao gồm:
Tuân thủ điều trị theo phác đồ của bác sĩ: Dùng thuốc đúng liều, đúng giờ, không tự ý ngưng hoặc thay đổi liều nếu chưa có ý kiến của bác sĩ.
Theo dõi huyết áp thường xuyên tại nhà và ghi lại kết quả đo.
Có chế độ ăn uống khoa học như: Ưu tiên rau xanh, trái cây tươi, ngũ cốc nguyên hạt, cá béo; đồng thời giảm muối, đường, thực phẩm chế biến sẵn, nhiều dầu mỡ,…
Duy trì cân nặng hợp lý, nếu thừa cân – béo phì nên tham khảo ý kiến bác sĩ về cách giảm cân khoa học.
Tăng cường vận động thể chất với 30 phút mỗi ngày.
Giảm căng thẳng, nghỉ ngơi hợp lý.
Không hút thuốc lá, giảm rượu, bia,…
Quản lý tốt các bệnh nền như đái tháo đường, bệnh thận, rối loạn nội tiết.
Tuân thủ lịch tái khám định kỳ.
Khi nào nên gặp bác sĩ?
Người bệnh nên đến gặp bác sĩ ngay khi có các dấu hiệu bất thường liên quan đến huyết áp, đặc biệt nếu có nghi ngờ huyết áp thay đổi nghiêm trọng:
Kết quả đo huyết áp >=180/120 mmHg, cần đến bệnh viện ngay cho dù không có triệu chứng bất thường.
Xuất hiện các triệu chứng như đau đầu dữ dội, mờ mắt, khó thở, tức ngực, tê yếu chân tay,…
Đang điều trị nhưng đo thấy chỉ số huyết áp bị vọt lên đột ngột.
Có các bệnh nền như: suy thận, bệnh tim mạch, đái tháo đường, rối loạn nội tiết.
Phụ nữ mang thai có dấu hiệu tiền sản giật như: phù, huyết áp bị tăng, đau đầu, rối loạn thị giác,…
Sau khi dùng các sản phẩm có chứa chất kích thích như cocain khiến huyết áp thay đổi bất thường.
Mệt mỏi, lú lẫn hoặc có dấu hiệu thần kinh bất thường mà không rõ nguyên nhân.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội:
108 Phố Hoàng Như Tiếp, Phường Bồ Đề, TP. Hà Nội
(Đ/c cũ: 108 Hoàng Như Tiếp, P.Bồ Đề, Q.Long Biên, TP. Hà Nội)
Tăng huyết áp ác tính là tình trạng cần được chẩn đoán nhanh chóng và hạ áp đúng cách ngay lập tức. Tùy vào từng trường hợp lâm sàng cụ thể, bác sĩ sẽ có chỉ định dùng thuốc hạ áp thích hợp nhằm đưa huyết áp về mức ổn định và giảm thiểu các biến chứng nặng.
Cập nhật lần cuối: 13:58 09/12/2025
Chia sẻ:
Nguồn tham khảo
I;Chauhan, A. (2025, June 22). Hypertensive Crisis. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/29939523/
Bisognano, J. D. (2024, October 29). Malignant Hypertension: Background, Pathophysiology and Etiology, Prognosis. Medscape.com; Medscape. https://emedicine.medscape.com/article/241640-overview?form=fpf