
Cứ 33 giây lại có một ca tử vong do mắc các bệnh về tim mạch. Đây được xem là nguyên nhân gây tử vong cao trên toàn cầu, không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng người bệnh, mà còn gia tăng gánh nặng lên hệ thống y tế và nền kinh tế xã hội.

Các bệnh về tim đang trở thành vấn đề sức khỏe nghiêm trọng trên toàn thế giới, với tỷ lệ mắc bệnh ngày tăng và nguy cơ tử vong đứng đầu trên thế giới và cả Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có tới 17,9 triệu người tử vong do bệnh tim mạch vào năm 2019, chiếm 32% tổng số ca tử vong trên toàn cầu. (1)
Tại Việt Nam, bệnh tim cướp đi mạng sống của gần 200.000 người mỗi năm, cao hơn số người tử vong vì ung thư, đáng lưu ý là bệnh đang có xu hướng trẻ hóa. Nếu trước đây, một số bệnh về tim mạch như bệnh động mạch não, bệnh động mạch vành, bệnh động mạch ngoại biên… thường gặp ở người lớn tuổi, thì ngày nay, có thể xuất hiện ở người trẻ. (2)

Sự gia tăng này xuất phát từ hiểu yếu tố như: không kiểm soát tốt các bệnh nền liên quan, không tuân thủ điều trị bằng thuốc, lối sống thiếu khoa học, dinh dưỡng kém, ít hoặc không vận động, hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia… Những yếu tố này làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, đẩy nhanh quá trình xơ vữa động mạch và cuối cùng là dẫn đến những biến chứng nguy hiểm về tim mạch như nhồi máu cơ tim, rối loạn nhịp tim, suy tim, đột quỵ…
Mặc dù số ca mắc và tử vong do bệnh tim mạch không ngừng gia tăng, thậm chí đang có xu hướng trẻ hóa, nhưng nhiều người vẫn chưa quan tâm đúng mức đến việc tầm soát sớm, giúp phát hiện và điều trị bệnh kịp thời. Do đó, nâng cao nhận thức về các bệnh tim mạch thường gặp, sẽ giúp mỗi người chủ động hơn trong việc thăm khám, phát hiện sớm, điều trị kịp thời, giảm tỷ lệ mắc bệnh và hạn chế các biến chứng về tim nguy hiểm.
Bệnh tim mạch (Heart Disease) là bệnh lý do rối loạn của tim và mạch máu. Bệnh bao gồm các bệnh mạch vành, bệnh tim bẩm sinh, tăng huyết áp, bệnh động mạch ngoại vi, bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh màng ngoài tim, loạn nhịp tim… Nếu không điều kịp thời, các bệnh về tim có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm, thậm chí đe dọa tính mạng người bệnh.
Theo thống kê từ WHO, có khoảng 1,28 tỷ người trong độ tuổi từ 30-79 trên toàn thế giới mắc bệnh tăng huyết áp. Đáng chú ý, có tới 46% người không biết mình bị mắc bệnh. Tăng huyết áp nếu không được kiểm soát tốt, có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho tim, làm giảm lưu lượng máu và oxy đến tim. Áp lực tăng cao và lưu lượng máu giảm trong thời gian dài có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim, đột quỵ, rối loạn nhịp tim, suy tim… Đó là lý do tại sao tăng huyết áp còn được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”.

Mỡ máu cao hay còn gọi là rối loạn mỡ máu, rối loạn lipid máu, là tình trạng gia tăng nồng độ LDL cholesterol (cholesterol “xấu”) và/hoặc triglyceride trong máu. Đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến xơ vữa động mạch gây tắc nghẽn mạch máu, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tim mạch.
Mỡ máu cao có thể xuất phát từ tiền sử gia đình có người thân từng mắc bệnh mạch vành sớm, đột quỵ hoặc tăng mỡ máu gia đình. Nguyên nhân thứ phát gây mỡ máu cao là do lối sống thiếu khoa học: chế độ ăn uống không lành mạnh, ít vận động, hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, thừa cân, béo phì… Bên cạnh đó, việc không tuân thủ điều trị, kiểm soát bệnh như bệnh thận, suy giáp, hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS), đái tháo đường, bệnh gan… cũng làm tăng nguy cơ bị rối loạn mỡ máu.
Xơ vữa mạch máu xảy ra khi mảng bám cholesterol và chất chất khác tích tụ trong thành động mạch, lâu ngày gây hẹp hoặc tắc nghẽn mạch máu. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Quá trình hình thành mảng xơ vữa có thể bắt đầu từ khi một người con trẻ và diễn ra âm thầm suốt nhiều năm. Kết hợp với các yếu tố như hút thuốc lá, mỡ máu cao, tăng huyết áp, đái tháo đường… làm tăng nguy cơ xơ vữa mạch máu.
Bệnh động mạch vành là bệnh của động mạch nuôi tim, biểu hiện dưới 2 dạng: đau thắt ngực ổn định hay còn gọi là suy động mạch vành mạn và nhồi máu cơ tim cấp. Theo ước tính hiện có khoảng 8,9 triệu người tử vong mỗi năm do bệnh động mạch vành.
Động mạch vành có chức năng cung cấp lượng máu giàu oxy cho cơ tim, vì vậy khi sự tắc nghẽn diễn ra không được điều trị vô cùng nguy hiểm, có thể dẫn tới biến chứng như nhồi máu cơ tim hoặc tử vong.
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến bệnh động mạch chủ là do xơ vữa động mạch, tăng huyết áp hoặc các bệnh lý di truyền hay nhiễm trùng. Biến chứng nguy hiểm nhất của bệnh là phình bóc tách động mạch chủ, có thể gây vỡ và tử vong nhanh chóng. Đáng lo ngại là các triệu chứng của bệnh thường không rõ ràng, khiến nhiều trường hợp phát hiện muộn, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.
Bệnh mạch máu não ảnh hưởng đến hệ thống tuần hoàn cung cấp máu cho não, thường gây ra tai biến mạch máu não hay còn gọi là đột quỵ não. Khi mạch máu não bị hẹp hoặc tắc nghẽn, não sẽ bị thiếu oxy, dẫn đến tổn thương não nghiêm trọng nếu không được can thiệp điều trị kịp thời. Nguyên nhân chủ yếu là do tăng huyết áp, đái tháo đường, xơ vữa động mạch và rối loạn đông máu.
Rối loạn nhịp tim có thể khiến hoạt động bơm máu của tim trở nên kém hiệu quả và gây ra các triệu chứng như: hồi hộp, đánh trống ngực, nhịp tim lúc nhanh lúc chậm, khó thở, hụt hơi, đau ngực, choáng váng… Dựa vào các dạng loạn nhịp tim, có thể chia nguyên nhân dẫn đến bệnh gồm:
Các triệu chứng của suy tim có thể khác nhau ở mỗi bệnh nhân. Những triệu chứng phổ biến nhất của bệnh là khó thở, mệt mỏi, phù, giảm khả năng gắng sức… Suy tim có thể bắt đầu đột ngột hoặc phát triển dần dần trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng. Suy tim không có nghĩa là tim ngừng đập hoàn toàn, mà là khả năng bơm và hút máu của tim bị giảm, máu có thể bị ứ đọng trong phổi, gây ra tình trạng khó thở.

Bệnh van tim là tình trạng bệnh lý của tim có biểu hiện dưới hai dạng tổn thương chính là hẹp van tim và hở van tim, hoặc có thể một van tim có 2 tổn thương cả hẹp và hở van tim. Hẹp van tim khiến cho các van tim trở nên dày, đóng vôi và cứng, trong một số trường hợp xảy ra dính các mép van, điều này làm hạn chế khả năng mở của van tim, cản trở sự lưu thông dòng máu.
Ngược lại, khi các van tim đóng không kín do giãn vòng van, thoái hóa, dính, co rút hoặc các dây chằng van tim quá dài sẽ gây ra tình trạng hở van tim, điều này có thể làm cho dòng máu trào ngược lại trong thời kỳ đóng van.
Bệnh màng ngoài tim thường liên quan đến tình trạng viêm hoặc tích tụ dịch ở lớp màng ngoài tim. Khi bị viêm, màng ngoài tim có thể dày lên, vôi hóa, tiết ra nhiều dịch hơn bình thường, gây áp lực lên tim, có thể gây chèn ép tim và ảnh hưởng đến chức năng bơm máu. Bệnh có thể xảy ra do virus, vi khuẩn xâm nhập, bệnh tự miễn, ung thư di căn hoặc xuất hiện sau cơn nhồi máu cơ tim.
Ở giai đoạn đầu, bệnh cơ tim có thể không xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào. Do đó, nhiều người không biết bản thân mắc bệnh cho đến khi tình trạng bệnh cơ tim trở nên nặng hơn. Một số triệu chứng phổ biến của bệnh bệnh bao gồm: hụt hơi, khó thở khi gắng sức, đau ngực, hồi hộp, choáng váng, ngất hoặc gần ngất, đau vùng hạ sườn phải, buồn nôn, chán ăn, phù chân, tiểu ít, đau ngực, nhịp tim không đều…
Bệnh cơ tim có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi và việc điều trị chỉ mang tính chất thuyên giảm, không thể ngăn bệnh tiến triển hoàn toàn. Nghiêm trọng hơn, bệnh có thể tiến triển đột ngột hoặc xấu đi nhanh chóng. Ngày nay, với tiến bộ trong chẩn đoán sớm và điều trị, bệnh cơ tim có thể được điều trị tốt, bệnh nhân có đời sống gần như người bình thường (như bệnh cơ tim phì đại).
Khi lưu lượng máu đến tim bị giảm do mảng xơ vữa gây hẹp động mạch, sẽ khiến tim bị thiếu máu nuôi. Người bệnh thường đau thắt ngực, khó thở, buồn nôn, chóng mặt, đổ mồ hôi lạnh… Thiếu máu cơ tim nếu không được kiểm soát kịp thời, có thể đưa đến nhiều biến chứng nguy hiểm như nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp tim hoặc đột tử.
Bệnh động mạch ngoại biên là bệnh lý tim mạch xảy ra khi các mảng bám từ chất béo, cholesterol, canxi, mô sợi và các chất khác tích tụ lại trong các động mạch mang máu đến não, các cơ quan và các chi do tình trạng xơ vữa động mạch. Thời gian dài, các mảng bám tích tụ và cứng lại, gây nên tình trạng hẹp hay tắc động mạch.
Đây là bệnh lý nguy hiểm, vì ngay cả khi được điều trị, người bệnh vẫn cần hết sức thận trọng, nếu không thay đổi các thói quen xấu trong sinh hoạt, bệnh vẫn sẽ tiếp diễn nhanh chóng. Đáng chú ý, hầu hết bệnh nhân bị bệnh động mạch ngoại biên thường có các bệnh lý tim mạch và mạch máu não, làm tăng tỷ lệ tử vong.
Huyết khối tĩnh mạch sâu là bệnh lý khá phổ biến, có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào, nhưng thường gặp nhiều ở những người trên 60 tuổi. Có khoảng 1-3 trong số 1.000 người Mỹ trưởng thành có huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc bị thuyên tắc phổi mỗi năm. (3)
Biến chứng nguy hiểm của huyết khối tĩnh mạch sâu là cục máu đông có thể theo dòng máu về tim đi đến phổi, gây thuyên tắc phổi, đe dọa đến tính mạng người bệnh.
Dị tật tim bẩm sinh có ngay từ khi trẻ mới sinh do bất thường cấu trúc của tim và các mạch máu lớn trong tim trẻ. Bệnh tim bẩm sinh được biết đến là dạng dị tật phổ biến nhất và là nguyên nhân gây chính gây tử vong của các ca dị tật bẩm sinh ở trẻ em. Tại các nước phát triển, tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh khoảng từ 0,7 – 1% trẻ sinh ra còn sống. Ở Việt Nam, theo báo cáo của các bệnh viện nhi, tỷ lệ mắc bệnh khoảng 1,5% trẻ nhập viện và 30 – 55% trẻ vào khoa tim mạch.
Bệnh tim bẩm sinh có từ khi trẻ con trong bụng mẹ và tồn tại cho đến khi trẻ chào đời
Những bệnh lý về tim thường có biểu hiện đa dạng và có thể khác nhau ở mỗi bệnh nhân. Tuy nhiên, một số triệu chứng điển hình thường gặp khi mắc các bệnh về tim bao gồm: đau ngực, khó thở, mệt mỏi kéo dài, chóng mặt, ngất, phù… Để có đánh giá chính xác, người bệnh nên đến bệnh viện để thăm khám, làm các chẩn đoán cận lâm sàng và được điều trị kịp thời.
Nhồi máu cơ tim được xem là bệnh lý tim mạch có nguy cơ tử vong cao nhất. Ước tính mỗi năm có đến 32,4 triệu ca nhồi máu cơ tim và đột quỵ trên thế giới. Bệnh nhân sống sót sau nhồi máu cơ tim có nguy cơ tái phát và tỷ lệ tử vong cao gấp 6 lần so với người khỏe mạnh cùng độ tuổi.
Tuy nhiên, hầu hết các bệnh tim mạch đều nghiêm trọng và tiềm ẩn nhiều biến chứng nguy hiểm. Vì vậy, chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa, tầm soát sớm, thăm khám định kỳ là chìa khóa giúp phát hiện sớm các bất thường về tim và có biện pháp điều trị thích hợp.
Các bác sĩ khuyến cáo, thai phụ ở tuần thai thứ 18-24 nên thực hiện tầm soát bệnh tim mạch cho thai nhi. Tại thời điểm này, tầm soát sẽ cho kết quả chẩn đoán chính xác cao, giúp phát hiện sớm các bất thường ở thai nhi và chủ động chuẩn bị các phương án điều trị sớm cho bé sau khi chào đời.
Đối với người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch (như hút thuốc lá, dư cân, béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh lupus ban đỏ,…) hay tiền sử gia đình có bệnh tim mạch nên tầm soát sớm để phát hiện và điều trị kịp thời. Hoặc ngay khi có các triệu chứng bất thường, nghi ngờ là bệnh tim, cần đến bệnh viện để kiểm tra ngay. Với người khỏe mạnh từ 40 tuổi, nên tầm soát bệnh tim mạch ít nhất mỗi năm 1 lần.
Để đặt lịch khám, tư vấn và điều trị trực tiếp với các bác sĩ tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách hàng có thể liên hệ theo thông tin sau:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh về tim mạch vẫn đang ở mức cao đáng báo động. Tuy nhiên hiện nay, với sự tiến bộ của nền y học hiện đại, nhiều máy móc, phương pháp chẩn đoán giúp phát hiện sớm nhũng bệnh lý liên quan đến tim mạch. Từ đó, có phương pháp điều trị hiệu quả, ngăn ngừa bệnh ngay từ giai đoạn đầu hoặc làm chậm tiến triển bệnh, hạn chế nguy cơ biến chứng. Do đó, mỗi người nên chủ động tầm soát bệnh tim sớm, thăm khám định kỳ để giúp phát hiện và phòng ngừa hiệu quả bệnh về tim.