Ung thư buồng trứng (UTBT) là bệnh lý phụ khoa ác tính thường gặp ở nữ giới, theo thống kê tại Việt Nam có 1404 ca bệnh mới mắc và 923 ca tử vong do bệnh (SEER 2020). UTBT thường được phân thành 4 giai đoạn theo phân loại FIGO I, II, III, IV với tỷ lệ sống còn 5 năm tương ứng là 89%, 71%, 41% và 20% (theo AJCC 6th). Khoảng 60% bệnh nhân nhận chẩn đoán mắc ung thư buồng trứng giai đoạn 3, gây nhiều khó khăn khi điều trị.

Ung thư buồng trứng giai đoạn 3 là sự ghi nhận các tế bào ung thư xuất hiện ở 1 hoặc cả 2 buồng trứng hay vòi tử cung, gieo rắc tế bào u vào phúc mạc ngoài vùng chậu hay di căn hạch vùng. Khoảng 60% bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư buồng trứng khi bệnh đã bước sang giai đoạn III (giai đoạn tiến xa tại chỗ-tại vùng) dẫn tới việc điều trị khó khăn hơn và tiên lượng kém hơn so với bệnh ở giai đoạn sớm. Điều trị nền tảng cho giai đoạn này là hóa trị và phẫu thuật kết hợp với điều trị toàn thân khác (như điều trị nhắm đích với bevacizumab,..).
Ung thư buồng trứng giai đoạn III: các tế bào ung thư có thể biểu hiện ở 1 hoặc cả 2 buồng trứng/vòi tử cung, gieo rắc các tế bào ung thư vào trong phúc mạc ổ bụng ngoài vùng chậu (ví dụ như các tế bào ung thư cũng có thể reo rắc trên bề mặt của gan, lá lách,….) hay di căn tới hạch bạch huyết vùng. (1)


Theo phân loại về mô bệnh học, ung thư buồng trứng có thể chia thành 3 loại chính:
Thông thường, ung thư buồng trứng được chia thành 4 giai đoạn theo phân loại FIGO nhằm xác định mức độ bệnh, sự xâm lấn đến các cơ quan khác nhằm xây dựng phác đồ điều trị thích hợp, lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp cũng như đưa ra tiên lượng sống còn cho người bệnh .
Xem thêm:
CÓ, tuy nhiên hiệu quả điều trị thành công thấp hơn nhiều so với giai đoạn sớm ung thư buồng trứng. Phương pháp điều trị chính cho những bệnh nhân ở giai đoạn này là phẫu thuật và hóa trị. Bệnh nhân có thể được phẫu thuật trước, sau đó nhận điều trị hóa trị bổ trợ; hoặc người bệnh có thể nhận điều trị hóa trị bổ trợ trước (còn gọi là hóa trị tân bổ trợ) nhằm mục đích giảm thiểu kích thước khối u cũng như tạo thuận lợi cho phẫu thuật sau đó.
Xu hướng điều trị hiện nay theo khuyến cáo từ các Hiệp hội Ung thư lớn như Hoa Kỳ (NCCN) hay châu Âu (ESMO) cho nhóm bệnh nhân giai đoạn III đã nghiêng về lựa chọn điều trị hóa trị trước, theo sau bởi phẫu thuật giảm tổng khối bướu. Hiệu quả điều trị có thể được đánh giá dựa trên mức độ đáp ứng một phần hoặc hoàn toàn với hóa trị tân bổ trợ, với những bệnh nhân có đáp ứng hoàn toàn với hóa trị tân bổ trợ mang lại tiên lượng tốt hơn với nhóm đáp ứng một phần. Điều trị nhắm đích với thuốc kháng sinh mạch bevacizumab có thể được chỉ định cho nhóm bệnh nhân này, đặc biệt mang lại hiệu quả cải thiện tiên lượng sống còn toàn bộ trên nhóm bệnh nhân nguy cơ cao giai đoạn III.
Hệ thống phân loại ung thư buồng trứng giai đoạn III thường dựa trên phân loại giai đoạn theo FIGO sử dụng trên lâm sàng. Theo đó, hệ thống phân đoạn ung thư FIGO chia ung thư buồng trứng thành 4 giai đoạn: FIGO I đến FIGO IV. Ung thư buồng trứng giai đoạn III được chẩn đoán khi tế bào ung thư phát triển gieo rắc phúc mạc ổ bụng ngoài vùng chậm hay tế bào ung thư được thấy trong các hạch bạch huyết vùng và chưa phát hiện di căn cơ quan xa. (2)

Di căn phúc mạc ngoài vùng chậu trên đại thể với kích thước khối di căn ≤2 cm ± di căn hạch sau phúc mạc; gồm cả gieo rắc tế bào u tại vị trí vỏ bao gan/lách.
Di căn phúc mạc ngoài vùng chậu trên đại thể với kích thước khối di căn >2cm ± hạch sau phúc mạc dương tính; gồm cả gieo rắc tế bào u tại vị trí vỏ bao gan/lách. (3)
Ở giai đoạn sớm, bệnh nhân thường biểu hiện ít triệu chứng trên lâm sàng, các triệu chứng không đặc hiệu, thậm chí không biểu hiện triệu chứng gì, do đó mà phần lớn ca bệnh được chẩn đoán ở giai đoạn tiến xa.
Các triệu chứng có thể gặp như:
Người bệnh ung thư buồng trứng giai đoạn III sống được bao lâu? Theo các kết quả nghiên cứu, tỷ lệ sống sót qua 5 năm kể từ thời điểm phát hiện bệnh ung thư buồng trứng giai đoạn III khoảng 41%. Tuy nhiên ThS.BS Lưu Thảo Ngọc nhấn mạnh, các số liệu thống kê chỉ mang tính chất tham khảo. Các yếu tố khác như tình trạng sức khỏe chung của người bệnh, bệnh lý nền, giai đoạn ung thư, loại giải phẫu bệnh, khả năng đáp ứng phác đồ điều trị,… sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị ung thư buồng trứng giai đoạn III. (4)
Tỷ lệ sống thêm sau 5 năm cho ung thư buồng trứng theo loại giải phẫu bệnh cụ thể như sau (theo SEER 2011-2017):
Khoảng 78% bệnh nhân ung thư buồng trứng có thể sống ít nhất 1 năm kể từ thời điểm chẩn đoán bệnh. Hơn 60% bệnh nhân sống ít nhất qua 3 năm và khoảng 50% phụ nữ sống qua 5 năm sau khi phát hiện ung thư buồng trứng. Theo đó, phụ nữ dưới 65 tuổi có tiên lượng sống cao hơn.
Một số phương pháp chẩn đoán ung thư buồng trứng thường được sử dụng gồm:

Một số phương pháp chẩn đoán hình ảnh có thể được chỉ định cho ung thư buồng trứng:
Xét nghiệm gen di truyền học: Người bệnh có thể được chỉ định xét nghiệm di truyền, đặc biệt với các đối tượng nguy cơ cao nhằm sớm phát hiện gen BRCA1 và BRCA2 (loại gen có khả năng gây ung thư vú, ung thư buồng trứng) để theo dõi, đánh giá và điều trị phòng ngừa từ sớm cho bản thân và cả cá nhân trong gia đình.
Người bệnh mắc ung thư buồng trứng giai đoạn III ghi nhận tế bào ung thư đã lan rộng đến các cơ quan vùng chậu, xâm lấn các hạch bạch huyết sau vùng bụng. Ước tính chỉ khoảng 40% bệnh nhân sống sót sau hơn 5 năm khi điều trị ung thư buồng trứng giai đoạn III.
Các phương pháp điều trị ung thư buồng trứng giai đoạn III phổ biến gồm:
Phương pháp phẫu thuật giảm tổng khối u trong điều trị ung thư buồng trứng giai đoạn III sẽ cắt bỏ tử cung, buồng trứng, vòi tử cung, mạc nối lớn của người bệnh, các hạch bạch huyết và một số mô vùng khung chậu cũng có thể được loại bỏ nếu nghi ngờ chứa tế bào ung thư.
Hóa chất được cho trước phẫu thuật (từ 4-6 chu kỳ) nhằm mục đích thu nhỏ khối bướu, giảm tổng lượng bệnh, chuyển từ giai đoạn không thể mổ được sang giai đoạn mổ được và tạo thuận lợi cho phẫu thuật giảm tổng khối u gian kỳ.
Hóa trị bổ trợ (hóa trị sau phẫu thuật): Hóa chất được cho sau phẫu thuật nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại mà quá trình phẫu thuật không thể loại bỏ.
Một số trường hợp có thể được chỉ định hóa trị nội phúc mạc (IP): Thuốc hóa chất được cho trong cuộc mổ nhằm đưa thuốc tới khoang phúc mạc, tác động trực tiếp đến tế bào ung thư, phương pháp này được áp dụng ở một số trung tâm ung thư. Các tác dụng không mong muốn được ghi nhận như nhiễm trùng, tắc nghẽn, khó chịu,…
Phương pháp điều trị ung thư đích có thể được kết hợp đồng thời với hóa trị. Thuốc thường được sử dụng là thuốc kháng sinh mạch bevacizumab đã mang lại lợi ích về sống còn cho người bệnh ung thư buồng trứng giai đoạn III-IV.
Sau khi người bệnh được nhận các phương pháp điều trị tối ưu nhất thì bệnh vẫn có nguy cơ tái phát vẫn rất cao. Vì vậy, việc theo dõi định kỳ sau điều trị cho các bệnh nhân ung thư buồng trứng là rất quan trọng, nhằm mục đích phát hiện sớm tái phát và điều trị kịp thời cho người bệnh.
Khi được chẩn đoán K buồng trứng giai đoạn III (giai đoạn tiến xa), người bệnh thường có những lo lắng, sợ hãi nhất định ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống cũng như tinh thần. Để chăm sóc với bệnh nhân ung thư buồng trứng giai đoạn III, gia đình cần chú ý một số điểm sau:

Nhằm phát hiện và điều trị ung thư buồng trứng sớm, việc khám sàng lọc được khuyến nghị. Để đặt lịch hẹn tư vấn và tầm soát ung thư buồng trứng, bạn có thể liên hệ:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Ung thư buồng trứng giai đoạn 3 được xem là giai đoạn tiến triển của bệnh, tuy nhiên với sự tiến bộ của kỹ thuật điều trị y khoa hiện đại, tỷ lệ điều trị bệnh ung thư buồng trứng thành công là điều có thể. Để đạt kết quả tốt nhất, bệnh nhân và gia đình cần nỗ lực rất lớn trong quá trình điều trị để sớm đẩy lùi bệnh tật.