Chín giờ sáng, Hồng gọi video hướng dẫn em gái cách pha thuốc kích trứng, chọn vị trí tiêm phù hợp, còn Hà cần thận làm theo từng bước.
Chị Hồng, 34 tuổi, được xác định vô sinh thứ phát sau hai lần mang thai ngoài tử cung, phải cắt bỏ cả hai vòi trứng. Để có con, vợ chồng chỉ còn lựa chọn duy nhất là làm thụ tinh ống nghiệm (IVF). Sau khi tìm hiểu, vợ chồng chị đến Trung tâm Hỗ trợ Sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh (IVF Tâm Anh Hà Nội) điều trị. Họ thu được 6 phôi ngày 5 trữ đông. Tuy nhiên vì niêm mạc mỏng và viêm phụ khoa, chị phải hoãn chuyển phôi 3 chu kỳ.
Trong khi đó, người em gái tên Hà, 30 tuổi, kết hôn 5 năm, sảy thai liên tiếp 3 lần, sau đó không có tin vui trở lại. Được chị gái động viên, vợ chồng Hà cũng đến IVF Tâm Anh thăm khám. Bác sĩ phát hiện Hà sảy thai nhiều lần do mắc hội chứng Anti-phospholipid (APS) không rõ nguyên nhân – một bệnh tự miễn, trong đó cơ thể sản xuất kháng thể kháng phospholipid, làm ảnh hưởng đến quá trình hình thành và nuôi dưỡng thai.
Ngoài ra, Hà còn bị dính buồng tử cung, khiến đáy tử cung không còn cong đều mà bị kéo lõm vào lòng tử cung. Tình trạng này có thể là hệ quả của những lần sảy thai, can thiệp hút thai trước đó.
Mong sớm có con, Hà quyết định cùng chị làm IVF. Do có kinh nghiệm điều trị trước, Hồng thường xuyên chia sẻ các thông tin với em gái, từ việc ăn uống, giờ giấc nghỉ ngơi…. để chuẩn bị thể trạng tốt nhất giúp quá trình IVF thuận lợi. Biết Hà sợ tiêm và hay quên, Hồng hẹn giờ để tiện nhắc nhở, động viên em kiên trì tiêm thuốc kích trứng đúng giờ. Những cuộc gọi lặp lại mỗi ngày trở thành điểm tựa tinh thần của cả hai trong giai đoạn điều trị nhiều áp lực.
Ngày Hồng chuyển phôi cũng là lúc Hà bước vào quy trình chọc hút noãn. Hai gia đình hẹn nhau đến bệnh viện từ sớm. Trước khi vào phòng thủ thuật, họ nắm tay gửi đến nhau những lời chúc may mắn.
BS.CKI Lê Đức Thắng siêu âm ghi nhận trứng của Hà kém phát triển, trưởng thành không đồng đều, chọc hút chỉ thu được 2 trứng đủ điều kiện sẵn sàng thụ tinh ngay. Các trứng non được phân loại theo mức độ trưởng thành, tiếp tục nuôi dưỡng trong môi trường nội tiết theo kỹ thuật IVM. Kết quả, các chuyên viên phôi học thu thêm được 3 trứng trưởng thành, nâng cao tỷ lệ có thai cho người bệnh.
Mẫu tinh trùng của người chồng được lọc rửa, mang thụ tinh với trứng trong ống nghiệm và nuôi cấy trong tủ time-lapse tích hợp trí tuệ nhân tạo, giúp vợ chồng Hà có được 3 phôi ngày 5. Bác sĩ tư vấn mang phôi trữ đông trong khi người vợ phẫu thuật nội soi cắt dính, tạo hình buồng tử cung giống bình thường để khi chuyển phôi vào tử cung, phôi thai có không gian phát triển.
Biết tin chị gái thành công có thai ngay sau lần chuyển phôi đầu, Hà như được tiếp thêm động lực. Sau phẫu thuật, khi buồng tử cung của Hà được đánh giá hồi phục và niêm mạc đủ điều kiện, chị được chuyển 1 phôi ngày 5 vào buồng tử cung, đồng thời tiêm thuốc kháng đông máu mỗi ngày.
Những ngày sau chuyển phôi, Hà luôn trong trạng thái hồi hộp. Chị Hồng vẫn đều đặn gọi điện động viên, chia sẻ kinh nghiệm, giúp em giữ tinh thần ổn định. May mắn, Hà cũng đậu thai. Ngày nhận kết quả beta, Hà gọi ngay cho chị để báo tin vui. “Nếu thai kỳ thuận lợi, hai đứa trẻ sẽ sinh cùng năm”, Hà chia sẻ.

Theo bác sĩ Thắng, cả nam và nữ phải đối mặt với nhiều bệnh lý gây vô sinh hiếm muộn. Ở nữ giới, vô sinh nguyên phát thường liên quan đến các rối loạn phóng noãn như hội chứng buồng trứng đa nang, suy giảm dự trữ buồng trứng, bất thường bẩm sinh cơ quan sinh dục. Trong khi vô sinh thứ phát hay gặp sau các biến cố sản khoa như viêm nhiễm, thai ngoài tử cung, sảy thai nhiều lần hoặc can thiệp buồng tử cung dẫn đến tổn thương niêm mạc. Ngoài ra, ảnh hưởng của lối sống, môi trường như hút thuốc, rượu bia, tiếp xúc hóa chất độc hại cũng có thể khiến nữ giới đối diện với nguy cơ vô sinh.
Việc điều trị ngày càng đòi hỏi đánh giá toàn diện và cá thể hóa cho từng cặp vợ chồng. Phát hiện sớm và can thiệp kịp thời có ý nghĩa quan trọng trong cải thiện khả năng điều trị, đặc biệt trong bối cảnh độ tuổi kết hôn và sinh sản của nhiều cặp đôi ngày càng muộn.
Hiện nhiều phương pháp hỗ trợ sinh sản hiện đại trong IVF như nuôi trưởng thành trứng non trong ống nghiệm, nuôi cấy phôi nang, trữ đông phôi, sàng lọc phôi, xét nghiệm xác định thời điểm niêm mạc tử cung tiếp nhận phôi (ERA test)… giúp mở rộng cơ hội có con cho nhiều trường hợp trước đây khó điều trị. Tại IVF Tâm Anh, thống kê từ năm 2021-2025, kết quả có thai cộng dồn trên tất cả nhóm bệnh nhân trung bình đạt 82,8%, ở nhóm dưới 28 tuổi lên đến 90,3%, nhóm thất bại nhiều lần là 72,3%.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH