Khác với phẫu thuật truyền thống, bác sĩ dựa vào kiến thức giải phẫu thần kinh kinh điển để tưởng tượng vị trí khối u và lên kế hoạch các đường mổ, phẫu thuật thần kinh hiện đại ứng dụng nhiều tầng công nghệ cao liên hoàn như: cộng hưởng từ khuếch tán dựng hình bó sợi thần kinh, định vị và giám sát thần kinh trong mổ, kính vi phẫu tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI)… giúp bác sĩ nhìn thấy khối u bên cạnh các cấu trúc lành của não trong thời gian thực ngay giữa ca mổ.
Nhờ đó, phẫu thuật viên xác định được đường mổ tối ưu, ngắn nhất, ít xâm lấn nhất mà vẫn loại bỏ triệt để u, giảm tối đa các tổn thương dây thần kinh và cấu trúc quan trọng của não bộ. Người bệnh phục hồi nhanh hơn trong giai đoạn hậu phẫu, nguy cơ biến chứng thấp, bảo tồn nhận thức, khả năng vận động, giác quan với chất lượng cuộc sống được nâng cao.

ThS.BS Lê Văn Ngân, Khoa Ngoại Thần kinh – Cột sống, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, cho biết nhờ sự trợ giúp của công nghệ cao, đối tượng người bệnh được hưởng lợi từ phẫu thuật não đang được mở rộng. Điển hình, một số người bệnh ung thư giai đoạn cuối di căn não, trước đây thường được điều trị giảm nhẹ, tiên lượng sống rất kém chỉ từ một vài tháng, chất lượng cuộc sống giảm mạnh do u chèn ép gây liệt, mất ngôn ngữ, sống thực vật…, hiện nay dưới công nghệ hiện đại và kỹ thuật phẫu thuật nâng cao, đã có thể được phẫu thuật loại bỏ u tới mức triệt căn tại não.
Người bệnh tiếp tục các phác đồ điều trị ung thư đa mô thức sau phẫu thuật, đáp ứng các loại thuốc nhắm đích và miễn dịch thế hệ mới có thể kéo dài tiên lượng nhiều năm, với chất lượng cuộc sống đảm bảo.
Tại Hội nghị Khoa học quốc tế 2026 của Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh diễn ra từ ngày 16 đến 20/9, bác sĩ Ngân báo cáo chùm ca bệnh ung thư di căn não được phẫu thuật cắt bỏ khối u thành công.
Một trong số đó là ông Hậu, 67 tuổi, mắc ung thư phổi giai đoạn cuối di căn não, khối u kích thước 22 x 27 x 31 mm tại thùy trán phải, chèn ép gây yếu liệt một bên cơ thể. Người bệnh được chỉ định phẫu thuật cắt u tại não an toàn và hiệu quả với đa tầng công nghệ cao hỗ trợ liên hoàn.
Chụp cộng hưởng từ MRI 3.0 Tesla, lập bản đồ bó sợi thần kinh bằng thuật toán khuếch tán (DTI)

Khác với chụp cộng hưởng từ 1.5 Tesla thông thường, MRI 3.0 Tesla tạo ra từ trường mạnh gấp đôi, sử dụng thuật toán trí tuệ nhân tạo (AI) để loại bỏ nhiễu, giúp tái tạo hình ảnh sắc nét hơn, nhất là tại vùng ranh giới giữa khối u hoặc tổn thương não với mô não lành tính.
Công nghệ không dừng lại ở việc phát hiện và định vị tổn thương não như các thế hệ máy MRI trước đây, mà cùng lúc thu thập thêm rất nhiều lớp dữ liệu quan trọng chỉ trong một lần chụp kéo dài khoảng 30 phút.
Điển hình như tín hiệu khuếch tán của phân tử nước dọc theo các bó sợi thần kinh trong não bộ được đo theo hàng chục hướng, trên hàng triệu voxel (thể tích rất nhỏ trong não bộ), cho phép dựng hình 3D các đường dẫn truyền thần kinh quan trọng xung quanh khối u.
Bác sĩ Ngân cho biết các bó sợi thần kinh này đang điều khiển cơ thể vận động, nghe, nhìn, sử dụng ngôn ngữ, nên cần được bảo tồn tối đa trong các ca phẫu thuật não. Người bệnh đã phát hiện u não nhờ chụp MRI 1.5 Tesla thông thường nhưng không có công nghệ dựng hình bó sợi thần kinh (Diffusion Tensor Imaging – DTI), vẫn được khuyến khích chụp lại MRI 3.0 Tesla, để phục vụ phẫu thuật khi có chỉ định và được bảo hiểm y tế chi trả.

Công nghệ định vị thần kinh Neuro-Navigation: “GPS” dẫn đường từng cuộc mổ
Theo bác sĩ Ngân, bản đồ bó sợi thần kinh chỉ phát huy giá trị thực khi được đưa vào phòng mổ cùng Hệ thống Định vị thần kinh Neuro-Navigation, nhằm xác định chính xác vị trí khối u và các cấu trúc thần kinh trên não bộ thực của người bệnh.
Hệ thống này gồm một camera “mắt thần” chuyên dụng, ghi nhận vị trí của các quả cầu phản quang chuẩn trực, gắn cố định trên khung định vị đầu người bệnh, que định vị (Pointer) và dụng cụ phẫu thuật.
Neuro-Navigation liên tục đối chiếu dữ liệu MRI, tọa độ các quả cầu so với mốc giải phẫu của người bệnh. Một bộ thuật toán (Image Registration Algorithms) tái tạo hình ảnh lập thể 3D của não, khối u và các bó sợi thần kinh trên môi trường ảo, định vị đầu Pointer và dụng cụ phẫu thuật. Nhờ vậy, bác sĩ nhìn vào màn hình biết đang thao tác trên vùng não nào của người bệnh.

Bác sĩ Ngân cho biết công nghệ Neuro-Navigation tạo ra một “cuộc cách mạng” trong phẫu thuật thần kinh, bởi khả năng hỗ trợ bác sĩ nhìn thấy các cấu trúc não thực của người bệnh, thay vì phải tưởng tượng chúng trong đầu, dựa trên kiến thức giải phẫu não kinh điển.
Một số người bệnh như ông Hậu có khối u lớn, đã đè đẩy não, làm biến đổi cấu trúc giải phẫu so với kinh điển, nếu phẫu thuật thông thường có nguy cơ sai sót và biến chứng cao. Neuro-Navigation loại bỏ nguy cơ này, cho phép bác sĩ lập kế hoạch mổ tối ưu nhất và thực hành trước trên không gian ảo.
Bác sĩ Ngân có thể cắt thử u, xoay lật các góc nhìn để lường trước mọi tình huống nguy hiểm có thể xảy ra. Cuối cùng, một phương án mổ tốt nhất được chọn cho ông Hậu, ưu tiên việc cắt trọn u triệt căn, tránh các bó sợi thần kinh và cấu trúc não quan trọng, bằng một đường mổ ngắn nhất và diện tích mở não bé nhất, giảm tối thiểu xâm lấn.

Giám sát điện sinh lý thần kinh: Cảnh báo an toàn, bảo tồn chức năng hậu phẫu
Bác sĩ Ngân cho biết các công nghệ Neuro-Navigation hiện cho phép định vị khối u với độ chính xác tới từng milimet, tự động chuẩn trực theo vị trí, tư thế người bệnh. Song khi bác sĩ thao tác vào não, cắt khối u, hút bớt dịch não tủy, mô não có thể dịch chuyển một khoảng rất nhỏ (brain shift) so với phim chụp MRI.
Hệ thống Giám sát thần kinh trong mổ (Intraoperative Neurophysiological Monitoring – IONM) làm nhiệm vụ bảo vệ các vùng não chức năng quan trọng như ngôn ngữ, vận động, thị giác, thính giác, cảm giác…. khỏi sai số rất nhỏ này.
Bác sĩ gắn các điện cực lên bề mặt não, tay, chân, các bó cơ lớn, vùng cảm giác xúc giác chính, đeo tai nghe, kính phát ánh sáng kích thích liên tục vào hai mắt người bệnh. Các điện cực ghi nhận tín hiệu điện thần kinh liên tục, truyền đến hệ thống theo dõi trung tâm bằng kết nối không dây.
Một chuyên gia sinh lý thần kinh theo dõi các tín hiệu này liên tục trong ca mổ qua màn hình. Nếu một thao tác phẫu thuật gây áp lực lên vùng não lành, phạm vào các bó sợi thần kinh hoặc làm giảm lượng máu nuôi dưỡng mô, tín hiệu trên màn hình thay đổi lập tức. Chuyên gia sẽ cảnh báo bác sĩ phẫu thuật điều chỉnh thao tác an toàn hơn.

Theo bác sĩ Ngân, Hệ thống Giám sát thần kinh trong mổ là công nghệ mới được ứng dụng tại Việt Nam khoảng vài năm trở lại đây, nhưng đã bảo vệ người bệnh hiệu quả khỏi các biến chứng như liệt vận động, mất cảm giác, giảm thính lực, thị lực, khả năng nhai hoặc giao tiếp sau phẫu thuật. Đây vốn là những biến chứng khiến người bệnh và cả bác sĩ e ngại khi phẫu thuật thần kinh trước đây.
Kính vi phẫu tích hợp trí tuệ nhân tạo AI
Cuối cùng, dù đã được hỗ trợ bởi hàng tầng và nhiều lớp công nghệ liên hoàn, trong một ca phẫu thuật não, bác sĩ vẫn phải thực sự nhìn vào não bộ người bệnh. Công việc được thực hiện thông qua một hố mổ hình phễu, cắt qua các tầng da đầu, hộp sọ, màng não.
Phẫu thuật não trước đây đòi hỏi hố mổ lớn do thiếu phương tiện hỗ trợ, theo bác sĩ Ngân. Hiện công nghệ kính vi phẫu tích hợp trí tuệ nhân tạo AI cho phép bác sĩ nhìn vào não qua hố mổ đường kính chỉ khoảng 2 cm trong xu hướng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, mở nhỏ hơn nhìn rộng hơn.
Hệ thấu kính vi phẫu phóng đại trường mổ từ 4 đến 20 lần, giúp bác sĩ quan sát rõ các cấu trúc vi mô như mạch máu, dây thần kinh, mô ung thư để thực hiện các đường cắt tinh vi và chính xác cao độ trong phạm vi 0,3-0,5 mm.
Các chế độ vận hành bán tự động và tự động hoàn toàn cho phép kính vi phẫu ghi nhớ nhiều vị trí, lấy nét liên tục vùng mổ, duy trì góc nhìn và bám sát thao tác mổ, nhờ đó thời gian mổ não được rút ngắn đáng kể. Trí tuệ nhân tạo AI tích hợp giúp xác định lưu lượng máu trong các mạch máu rất nhỏ, phân tích huyết động học theo thời gian thực và làm nổi hình khối u 3D nhuộm huỳnh quang.

Toàn bộ các công nghệ này đã hỗ trợ bác sĩ Ngân trong ca phẫu thuật cắt triệt để khối ung thư di căn não cho ông Hậu. Sau mổ 7 ngày, ông hồi phục tốt và được xuất viện, không biến chứng. Tình trạng yếu liệt nửa người bên trái cải thiện đáng kể giúp ông Hậu tự chăm sóc được bản thân dù bệnh ở giai đoạn cuối.
Hiện sau 3 tháng, người bệnh đang tiếp tục điều trị với thuốc đích thế hệ mới đến chu kỳ thứ 8, đáp ứng tốt, sức khỏe ổn định với chất lượng cuộc sống được nâng cao.
Bác sĩ Ngân cho biết ngoài ông Hậu, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội còn phẫu thuật triệt khối u di căn não cho nhiều bệnh nhân ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ung thư vú giai đoạn cuối.
Phẫu thuật thần kinh hiện đại với sự trợ giúp của đa tầng công nghệ cao đã chứng minh được sự an toàn và hiệu quả, xóa bỏ nhiều định kiến của người bệnh về phẫu thuật não trước đây như nỗi sợ biến chứng, yếu liệt sau mổ.
Song bác sĩ Ngân, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, cho biết các hệ thống máy móc, thiết bị công nghệ cao hỗ trợ phẫu thuật thần kinh có tính đa tầng và liên hoàn, dữ liệu thu được từ hệ thống trước là đầu vào quan trọng của hệ thống sau, nên được được các bệnh viện đầu tư hiện đại đồng bộ để phát huy hết chức năng và công dụng từng thiết bị, hỗ trợ phẫu thuật viên tối đa và đem lại lợi ích lớn nhất cho người bệnh.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH