
Xuất huyết giảm tiểu cầu xảy ra khi hệ thống miễn dịch trong cơ thể tấn công tiểu cầu. Triệu chứng điển hình là chảy máu nướu răng, xuất hiện vết bầm tím trên da, lẫn máu trong phân, nước tiểu… Phương pháp điều trị chủ yếu là dùng thuốc, truyền tiểu cầu hoặc can thiệp phẫu thuật cắt lách nếu nghiêm trọng.

Xuất huyết giảm tiểu cầu (Immune Thrombocytopenia) là một dạng rối loạn cầm máu nguyên phát, đặc trưng bởi số lượng tiểu cầu thấp do nguyên nhân tự miễn. Tình trạng này thường dẫn đến tăng nguy cơ chảy máu trên bề mặt da (chấm xuất huyết, ban xuất huyết và bầm tím trên da) và chảy máu niêm mạc (chảy máu niêm mạc mũi, nướu răng, chảy máu đường tiêu hoá, ra huyết âm đạo bất thường, tiểu máu…).
Xuất huyết giảm tiểu cầu còn được gọi là ban xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch, giảm tiểu cầu vô căn, giảm tiểu cầu miễn dịch.
Tùy thuộc độ tuổi của người bệnh, xuất huyết giảm tiểu cầu có thể gây ra hai hội chứng lâm sàng riêng biệt:
Tuy nhiên, cơ chế sinh bệnh của xuất huyết giảm tiểu cầu cấp tính và mạn tính là tương tự nhau, đều liên quan đến kháng thể chống lại các kháng nguyên bề mặt tiểu cầu, chẳng hạn như glycoprotein.

Bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu được phân loại thành 2 nhóm chính:
Xuất huyết giảm tiểu cầu nguyên phát xảy ra khi hệ thống miễn dịch tấn công tiểu cầu. Phân loại này chiếm khoảng 80% [1] tổng số các trường hợp, có thể được xem là một dạng rối loạn tự miễn.
Xuất huyết giảm tiểu cầu thứ phát có thể xảy ra ở những bệnh nhân mắc các bệnh lý tiềm ẩn như nhiễm trùng mạn tính, ung thư máu, rối loạn tự miễn dịch ảnh hưởng đến số lượng tiểu cầu…
Giảm tiểu cầu miễn dịch xảy ra khi hệ thống miễn dịch tạo ra các kháng thể tấn công tiểu cầu. Ở người lớn, nhiễm trùng HIV, viêm gan hoặc vi khuẩn H. pylori (vi khuẩn gây tình trạng loét dạ dày) [2]. Ở hầu hết trẻ em, bệnh lý này thường xuất hiện sau khi nhiễm virus như quai bị hoặc cúm.
Dấu hiệu xuất huyết giảm tiểu cầu có thể không điển hình, xảy ra nhanh hoặc chậm tùy vào từng trường hợp, thường gặp gồm:
>> Tìm hiểu về tình trạng xuất huyết do căn bệnh hiếm gặp: Mồ hôi máu

Các đối tượng dễ bị xuất huyết giảm tiểu cầu bao gồm:
Xuất huyết giảm tiểu cầu có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng tỷ lệ mắc cao nhất là độ tuổi từ 2 đến 5 và vị thành niên. Tình trạng này phổ biến hơn ở trẻ em nam.
Trẻ sơ sinh được sinh ra từ người mẹ mắc bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch có thể có nguy cơ mắc bệnh lý này và chảy máu cao hơn.
Xuất huyết giảm tiểu cầu phổ biến hơn ở phụ nữ trẻ, đặc biệt là những người đang mắc các bệnh về hệ miễn dịch, chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp, lupus… [3]
Sau khi kiểm tra các dấu hiệu bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu, để chẩn đoán tình trạng xuất huyết giảm tiểu cầu, bác sĩ có thể chỉ định thực hiện các xét nghiệm sau đây:
Nếu người bệnh có nguy cơ mắc HIV, viêm gan C hoặc H. pylori, bác sĩ có thể chỉ định thực hiện xét nghiệm các bệnh nhiễm trùng này.
Thông thường, trẻ em bị giảm tiểu cầu miễn dịch có các triệu chứng nhẹ và không cần điều trị. Tuy nhiên, người lớn mắc bệnh này cần can thiệp điều trị để tránh biến chứng. Bác sĩ có thể kê đơn thuốc làm tăng số lượng tiểu cầu hoặc ức chế hệ thống miễn dịch tấn công tiểu cầu, bao gồm:
Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể chỉ định điều trị bằng các phương pháp khác như:
Dùng thuốc, truyền tiểu cầu và phẫu thuật đều có thể gây ra một số tác dụng phụ nhất định. Bác sĩ sẽ trao đổi cụ thể với bệnh nhân về vấn đề này trước khi tiến hành điều trị.
Giảm tiểu cầu miễn dịch có nguy cơ gây chảy máu não, dẫn đến tử vong nhưng tình trạng này hiếm khi xảy ra. Phụ nữ mang thai có số lượng tiểu cầu thấp có nguy cơ cao bị chảy máu nhiều trong quá trình sinh. Đối với trường hợp này, bác sĩ sẽ đề xuất phương pháp điều trị để kiểm soát số lượng tiểu cầu ổn định. Bệnh xuất huyết tiểu cầu thường không ảnh hưởng đến thai nhi. Tuy nhiên, số lượng tiểu cầu của trẻ sơ sinh cần được kiểm tra ngay sau khi sinh ra để tránh gặp phải các tình trạng không mong muốn.

Người bệnh bị xuất huyết giảm tiểu cầu có thể cần dùng thuốc trong suốt quãng đời còn lại để đảm bảo cơ thể sản xuất đủ tiểu cầu. Lưu ý quan trọng là cần tránh các hoạt động làm tăng nguy cơ bị thương và chảy máu, bao gồm:
Dưới đây là phần giải đáp một số thắc mắc liên quan đến tình trạng xuất huyết giảm tiểu cầu:
Tiểu cầu giảm có nguy hiểm không? Xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch hiếm khi gây nguy hiểm. Nhiều trường hợp cấp tính có thể tự hồi phục mà không cần điều trị. Tuy nhiên, người bệnh không nên chủ quan về bệnh lý này. Một số ít trường hợp vẫn có nguy cơ xuất hiện tình trạng chảy máu não, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng.
Tiên lượng của bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Bệnh nhi có thể khỏe lại trong vòng vài tuần đến vài tháng mà không cần can thiệp điều trị. Đối với người trưởng thành bị xuất huyết giảm tiểu cầu mạn tính, người bệnh có thể dùng thuốc hoặc các phương pháp điều trị khác để kiểm soát triệu chứng (tùy thuộc vào số lượng tiểu cầu trong máu).
Tình trạng này thường không thể chữa khỏi, bệnh nhân có thể cần dùng thuốc trong suốt quãng đời còn lại để đảm bảo cơ thể sản xuất đủ tiểu cầu. Tuy nhiên, nhiều người vẫn có thể sống chung với bệnh lý này trong nhiều thập kỷ.
Để đặt lịch thăm khám, điều trị bệnh tại khoa Nội tổng hợp thuộc Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách vui lòng liên hệ:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Trên đây là bài viết tổng hợp thông tin chi tiết liên quan đến xuất huyết giảm tiểu cầu, triệu chứng, nguyên nhân, biến chứng nguy hiểm, xuất huyết tiểu cầu là gì và các biện pháp chẩn đoán, điều trị phổ biến. Hy vọng người bệnh đã có thêm nhiều cập nhật hữu ích để biết cách phát hiện sớm tình trạng, khám và điều trị kịp thời.